Thành phần
Aripiprazole 10mg
Công dụng
Chỉ định
Aripiprazol được chỉ định để điều trị tâm thần phân liệt ở người lớn và ở thiếu niên từ 15 tuổi trở lên.
Aripiprazol được chỉ định để điều trị các cơn hưng cảm từ vừa đến nặng của bệnh rối loạn lưỡng cực I và để điều trị dự phòng cho giai đoạn hưng cảm mới ở bệnh nhân đã trải qua nhiều cơn hưng cảm và những cơn hưng cảm này đáp ứng với điều trị bằng aripiprazol.
Chống chỉ định
Quá mẫn cảm với thành phần của thuốc.
Hướng dẫn sử dụng
Cách dùng
Thuốc Aritero 10mg dạng viên nén dùng đường uống.
Liều dùng
Người lớn
Liều dùng cho bệnh nhân tâm thần phân liệt:
- Liều aripiprazol khởi đầu khuyến cáo là 10 hoặc 15mg/ngày với liều duy trì 15mg/ngày dùng mỗi ngày một lần và thời điểm dùng thuốc không liên quan đến bữa ăn.
- Aripiprazol đạt hiệu quả trong phạm vi liều từ 10 đến 30mg/ngày.
- Việc tăng hiệu quả của thuốc với các liều cao hơn liều 15mg/ngày chưa được chứng minh mặc dù một số bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ liều cao hơn. Liều tối đa hàng ngày không nên vượt quá 30mg.
Liều dùng điều trị các cơn hưng cảm:
- Liều aripiprazol khởi đầu khuyến cáo là 15mg dùng mỗi ngày một lần cùng hoặc không cùng bữa, như liệu pháp điều trị đơn hoặc điều trị kết hợp.
- Một số bệnh nhân có thể hưởng lợi từ liều cao hơn.
- Liều tối đa hàng ngày không nên vượt quá 30mg.
Liều dùng phòng ngừa tái phát cơn hưng cảm trong rối loạn lưỡng cực I:
- Để phòng ngừa sự tái phát các cơn hưng cảm ở bệnh nhân đã điều trị với aripiprazol trong liệu trình điều trị đơn hoặc điều trị kết hợp, nên tiếp tục điều trị với cùng mức liều lượng.
- Việc điều chỉnh liều dùng hàng ngày, bao gồm cả giảm liều dùng cần được xem xét dựa trên cơ sở tình trạng lâm sàng của bệnh nhân
Trẻ em
Liều dùng điều trị tâm thần phân liệt ở thiếu niên từ 15 tuổi trở lên:
- Liều khuyến cáo của Aripiprazol là uống mỗi ngày một lần 10mg cùng hoặc không cùng bữa ăn.
- Điều trị nên được bắt đầu với liều 2mg ngày 1 lần (dùng dung dịch uống aripiprazol 1mg/ml) trong 2 ngày đầu, sau đó chuẩn độ lên 5mg trong 2 ngày tiếp theo để đạt tới liều khuyến cáo là 10 mg ngày uống 1 lần.
- Khi thích hợp, cần tăng liều tiếp theo thêm 5mg nhưng không được vượt quá liều tối đa hàng ngày 30mg.
- Aripiprazol đạt hiệu quả trong phạm vi liều từ 10 đến 30mg/ngày. Việc tăng hiệu quả của thuốc với các liều cao hơn liều 10 mg/ngày ở đối tượng thiếu niên chưa được chứng minh mặc dù một số bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ liều cao hơn.
Đối tượng khác
- Không khuyến cáo điều trị với Aripiprazol ở bệnh nhân dưới 15 tuổi do không có đủ dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của thuốc ở những bệnh nhân này.
Bệnh nhân suy gan:
- Không cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân suy gan nhẹ đến vừa, chưa có đủ dữ liệu khuyến cáo dùng thuốc ở bệnh nhân suy gan nặng.
- Cần thận trọng khi tính toán liều lượng ở những bệnh nhân này.
- Tuy nhiên, nên thận trọng khi điều chỉnh liều tối đa 30mg/ngày ở bệnh nhân suy gan nặng.
Bệnh nhân suy thận:
- Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận.
Người cao tuổi:
- Hiệu quả của aripiprazol trong điều trị tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực I ở bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên chưa được xác định.
- Do sự nhạy cảm với thuốc cao hơn ở nhóm bệnh nhân này, cần xem xét liều khởi đầu thấp hơn khi các yếu tố lâm sàng cho phép.
Giới tính:
- Không cần điều chỉnh liều ở nữ giới so với nam giới.
Hút thuốc:
- Dựa theo đường chuyển hóa của aripiprazol, không cần điều chỉnh liều ở những người hút thuốc.
Điều chỉnh liều do tương tác thuốc:
- Cần giảm liều Aripiprazol khi dùng đồng thời các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 hoặc CYP2D6.
- Cần tăng liều Aripiprazol khi ngưng điều trị kết hợp với các chất ức chế CYP3A4 hoặc CYP2D6.
- Cần tăng liều Aripiprazol khi dùng đồng thời với các chất gây cảm ứng mạnh CYP3A4.
- Cần giảm liều Aripiprazol xuống mức liều khuyến cáo khi ngưng điều trị kết hợp với chất gây cảm ứng CYP3A4.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Tác dụng phụ:
Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất được ghi nhận trong các thử nghiệm đối chứng với giả dược là chứng ngồi không yên và buồn nôn với mỗi tác dụng xảy ra ở hơn 3% bệnh nhân được điều trị với aripiprazol dùng đường uống.
Các tác dụng mong muốn của thuốc được liệt kê dưới đây xảy ra thường xuyên hơn (≥ 1/100) so với giả dược, hoặc đã được xác định là tác dụng không mong muốn có khả năng liên quan đến thuốc (*): Tần suất xảy ra của các tác dụng không mong muốn (ADR) được sắp xếp theo quy định sau: thường gặp (1/100< ADR< 1/10) và ít gặp (1/1.000
- Rối loạn tâm thần: thường gặp: bồn chồn, mất ngủ, lo âu; ít gặp: trầm cảm.
- Rối loạn hệ thần kinh: thường gặp: rối loạn ngoại tháp, chứng ngồi nằm không yên, run, chóng mặt, ngái ngủ, buồn ngủ, đau đầu.
- Rối loạn mắt: thường gặp: mờ mắt; ít gặp: chứng song thị.
- Rối loạn tim mạch: ít gặp: tim đập nhanh.
- Rối loạn mạch máu: thường gặp: hạ huyết áp tư thế đứng.
- Rối loạn tiêu hóa: thường gặp: chứng khó tiêu, nôn mửa, buồn nôn, táo bón, tăng tiết nước bọt.
- Rối loạn chung và toàn thân: thường gặp: mệt mỏi.
Triệu chứng ngoại tháp (EPS):
Ở bệnh nhân tâm thần phân liệt: trong một thử nghiệm có kiểm soát kéo dài 52 tuần, những bệnh nhân đã được điều trị với aripiprazol có tỉ lệ mắc các triệu chứng ngoại tháp bao gồm cả chứng Parkinson, chứng ngồi nằm không yên, rối loạn trương lực cơ, và rối loạn vận động thấp hơn (25,8%) so với những bệnh nhân được điều trị với haloperidol (57,3%). Trong một thử nghiệm đối chứng với giả dược kéo dài 26 tuần, tỉ lệ mắc phải các triệu chứng ngoại tháp ở bệnh nhân được điều trị với aripiprazol là 19% và ở bệnh nhân được điều trị với giả dược là 13,1%. Trong một thử nghiệm có kiểm soát kéo dài 26 tuần khác, tỉ lệ gặp phải các triệu chứng ngoại tháp ở bệnh nhân được điều trị với aripiprazol là 14,8% và ở bệnh nhân được điều trị với olanzapin là 15,1%. Ở bệnh nhân có các cơn hưng cảm của bệnh rối loạn lưỡng cực I, trong một thử nghiệm có kiểm soát kéo dài 12 tuần, tỉ lệ gặp phải các triệu chứng ngoại tháp là 23,5% ở những bệnh nhân được điều trị với aripiprazol và 53,3% ở những bệnh nhân được điều trị với haloperidol. Trong một thử nghiệm kéo dài 12 tuần khác, tỉ lệ gặp phải các triệu chứng ngoại tháp là 26,6% ở bệnh nhân điều trị với aripiprazol và 17,6% ở những bệnh nhân được điều trị với lithi. Trong một thử nghiệm đối chứng với giả dược ở giai đoạn duy trì kéo dài 26 tuần, tỉ lệ gặp phải các triệu chứng ngoại tháp là 18,2% ở nhóm bệnh nhân điều trị với aripiprazol và 15,7% ở nhóm bệnh nhân điều trị với giả dược.
Trong các thử nghiệm đối chứng với giả dược, tỉ lệ gặp phải chứng nằm-ngồi không yên ở bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực là 12,1% ở bệnh nhân dùng aripiprazol và 3,2% ở bệnh nhân dùng giả dược. Ở bệnh nhân bị tâm thần phân liệt, tỉ lệ gặp phải chứng nằm-ngồi không yên là 6,2% ở bệnh nhân dùng aripiprazol và 3,0% ở bệnh nhân dùng giả dược.
Rối loạn trương lực cơ:
Tác dụng phân nhóm: các triệu chứng của rối loạn trương lực cơ như co thắt bất thường kéo dài của các nhóm cơ có khả năng xảy ra ở những cá thể nhạy cảm trong vài ngày đầu điều trị. Triệu chứng của rối loạn trương lực cơ bao gồm: sự co thắt của các cơ ở cổ, đôi khi tiến triển đến mức độ co thắt cuống họng, khó nuốt, khó thở, và/hoặc hiện tượng cứng lưỡi (lưỡi thè ra quá mức). Những triệu chứng này có thể gặp phải khi dùng thuốc chống loạn thần liều thấp, và xảy ra thường xuyên hơn với mức độ nghiêm trọng hơn khi dùng liều cao các thuốc chống loạn thần thế hệ đầu. Nam giới và nhóm bệnh nhân trẻ tuổi có nguy cơ mắc chứng rối loạn trương lực cơ cao hơn các nhóm khác.
So sánh những thay đổi đặc trưng về mặt lâm sàng có thể xảy ra trong thử nghiệm thông thường và các thông số lipid ở những bệnh nhân dùng thuốc chống loạn thần aripiprazol và bệnh nhân điều trị bằng giả dược cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về mặt y học. Hiện tượng tăng chỉ số CPK (creatin phosphokinase), thường là thoáng qua và không có triệu chứng, ghi nhận được ở 3,5% bệnh nhân điều trị bằng aripiprazol so với 2,0% ở bệnh nhân dùng giả dược.
Các phát hiện khác:
Các tác dụng không mong muốn được biết có liên quan tới liệu pháp điều trị chống loạn thần và các tác dụng ghi nhận được khi điều trị với aripiprazol bao gồm: hội chứng an thần kinh ác tính, rối loạn vận động muộn, động kinh, tai biến mạch máu não, tỉ lệ tử vong gia tăng ở những bệnh nhân cao tuổi mắc chứng mất trí nhớ, tăng đường huyết và bệnh đái tháo đường.
Trẻ em: Trong một thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn đối chứng với giả dược được thực hiện ở 302 bệnh nhân ở tuổi thanh thiếu niên (13-17 tuổi) mắc chứng tâm thần phân liệt cho thấy tần suất và tác dụng không mong muốn ghi nhận được tương đương như ở người lớn, ngoại trừ các trường hợp sau đây đã được ghi nhận thường gặp hơn ở thanh thiếu niên điều trị với aripiprazol so với ở người lớn khi điều trị với aripiprazol (và thường gặp hơn so với giả dược):
- Các triệu chứng buồn ngủ và rối loạn ngoại tháp được ghi nhận xảy ra rất phổ biến (ADR ≥ 1/10).
- Hiện tượng khô miệng, tăng cảm giác thèm ăn, và tụt huyết áp tư thế đứng cũng được ghi nhận là thường gặp.
Mức độ an toàn của thuốc trong thử nghiệm lâm sàng mở rộng nhãn mở với thời gian 26 tuần cho kết quả tương tự như trong thử nghiệm ngắn hạn và thử nghiệm đối chứng với giả dược.
Tác dụng của thuốc đối với nhóm bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt ở tuổi vị thành niên (13-17 tuổi) có thời gian mang bệnh lên đến 2 năm cho thấy tỷ lệ mức prolactin huyết thanh thấp được ghi nhận ở phụ nữ (< 3 ng/ml) và nam giới (< 2 ng/ml) lần lượt là 29,5% và 48,3%.
Hậu lưu hành:
Các tác dụng không mong muốn sau đây đã được ghi nhận trong quá trình thuốc được chính thức lưu hành trên thị trường. Tần suất của các tác dụng không mong muốn này chưa được biết rõ (không thể ước lượng được từ các dữ liệu hiện có).
- Rối loạn máu và hệ bạch huyết: giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu.
- Rối loạn hệ miễn dịch: phản ứng dị ứng (như phản ứng phản vệ, phù mạch bao gồm cả sưng lưỡi, phù lưỡi, phù mặt, ngứa, hoặc nổi mề đay).
- Rối loạn nội tiết: tăng đường huyết, đái tháo đường, bệnh đái tháo đường nhiễm acid ceton, hôn mê do đái tháo đường gây ra.
- Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa: tăng cân, giảm cân, chán ăn, giảm natri huyết.
- Rối loạn tâm thần: kích động, căng thẳng, chứng nghiện cờ bạc bệnh lý; toan tự tử, ý định tự tử, và tự tử thành công.
- Rối loạn hệ thần kinh: rối loạn lời nói, hội chứng an thần kinh ác tính (NMS), co giật cơn lớn.
- Rối loạn tim mạch: kéo dài khoảng QT, rối loạn nhịp thất, chết đột ngột không rõ nguyên nhân, ngưng tim, xoắn đỉnh, nhịp tim chậm.
- Rối loạn mạch máu: ngất, tăng huyết áp, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (bao gồm cả thuyên tắc phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu).
- Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: co thắt hầu họng, co thắt thanh quản, viêm phổi hít.
- Rối loạn tiêu hóa: viêm tụy, chứng khó nuốt, đau bụng, đau dạ dày, tiêu chảy.
- Rối loạn gan mật: suy gan, chứng vàng da, viêm gan, tăng alanin aminotransferase (ALT), tăng aspartate aminotransferase (AST), tăng gamma glutamyl transferase (GGT), tăng alkalin phosphatase.
- Rối loạn da và mô dưới da: phát ban, phản ứng nhạy cảm với ánh sáng, rụng tóc, tăng tiết mồ hôi.
- Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết: tiêu cơ vân, đau cơ, cứng khớp.
- Tình trạng khi mang thai, lúc sinh đẻ và sau sinh: hội chứng cai thuốc ở trẻ sơ sinh.
- Rối loạn thận và hệ tiết niệu: tiểu không tự chủ, bí tiểu.
- Rối loạn vú và hệ sinh sản: cương dương.
- Rối loạn chung và toàn thân: rối loạn điều chỉnh nhiệt độ (như hạ thân nhiệt, sốt), đau ngực, phù ngoại vi.
- Một vài thông số nghiên cứu: tăng creatin phosphokinase, tăng đường huyết, đường huyết thay đổi thất thường, tăng nồng độ glycosylated haemoglobin.
Chống chỉ định
Quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Tương tác thuốc
Do có tính chất đối kháng với thụ thể α1-adrenergic, aripiprazol có khả năng tăng cường tác dụng của một số thuốc hạ huyết áp.
Do các tác dụng chính của aripiprazol có tác động tới hệ thần kinh trung ương, cần thận trọng khi dùng aripiprazol kết hợp với đồ uống có cồn hoặc các thuốc điều trị thần kinh trung ương khác như thuốc giảm đau để tránh các tác dụng không mong muốn chồng chéo.
Cần thận trọng khi dùng aripiprazol đồng thời với các thuốc gây ra chứng QT kéo dài hoặc mất cân bằng điện giải đã được biết đến.
Các dược phẩm khác có khả năng tương tác với aripiprazol: Thuốc ngăn chặn sự tiết acid trong dạ dày, các chất đối kháng H2 famotidin sẽ làm giảm tỷ lệ hấp thu của aripiprazol nhưng tác động này được coi là không có liên quan về mặt lâm sàng.
Aripiprazol được chuyển hóa bằng nhiều con đường bao gồm các enzym CYP2D6 và CYP3A4 nhưng không bao gồm enzym CYP1A. Vì vậy, không cần điều chỉnh liều cho những người có thói quen hút thuốc.
Trong một thử nghiệm lâm sàng ở người khỏe mạnh, một chất ức chế mạnh của CYP2D6 (quinidin) làm tăng diện tích dưới đường cong nồng độ – thời gian (AUC) của aripiprazol lên 107%, nhưng không làm tăng nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương (Cmax). AUC và Cmax của dehydro-aripiprazol, chất hoạt hóa của aripiprazol, lần lượt giảm 32% và 47%. Cần giảm liều dùng aripiprazol xuống khoảng một nửa so với liều chỉ định khi điều trị kết hợp aripiprazol với quinidin. Chất ức chế mạnh khác của CYP2D6, như fluoxetin và paroxetin, có thể có hiệu ứng tương tự và vì vậy cần áp dụng giảm liều tương tự.
Trong một thử nghiệm lâm sàng ở người khỏe mạnh, một chất ức chế mạnh của CYP3A4 (ketoconazol) làm tăng AUC và Cmax của aripiprazol lần lượt lên 63% và 37%. AUC và Cmax của dehydro-aripiprazol lần lượt tăng 77% và 43%. Ở những người có kiểu gen chuyển hóa kém CYP2D6, khi sử dụng đồng thời aripiprazol với các chất ức chế mạnh của CYP3A4 có thể dẫn đến nồng độ aripiprazol cao hơn trong huyết tương so với những người có kiểu gen chuyển hóa bình thường CYP2D6. Khi thực hiện điều trị kết hợp ketoconazol hoặc các chất ức chế CYP3A4 mạnh khác với aripiprazol, chỉ áp dụng liệu pháp kết hợp nếu xét thấy hiệu quả tiềm năng là lớn hơn những nguy cơ tiềm ẩn cho bệnh nhân. Khi dùng đồng thời ketoconazol với aripiprazol, cần giảm liều aripiprazol xuống khoảng một nửa so với liều chỉ định. Các chất ức chế mạnh khác của CYP3A4, chẳng hạn như itraconazol và các chất ức chế men protease dùng trong điều trị HIV, có thể gây tác động tương tự, vì vậy cần áp dụng giảm liều.
Sau khi ngưng sử dụng chất ức chế CYP2D6 hoặc CYP3A4, cần tăng liều lượng của aripiprazol lên bằng mức trước khi bắt đầu điều trị kết hợp.
Khi các chất ức chế yếu của CYP3A4 (ví dụ, diltiazem hoặc escitalopram) hoặc của CYP2D6 được sử dụng đồng thời với aripiprazol, có thể dẫn tới khả năng tăng nhẹ nồng độ aripiprazol.
Sau khi dùng đồng thời với carbamazepin, một chất cảm ứng mạnh của CYP3A4, chỉ số trung bình nhân của Cmax và AUC của aripiprazol lần lượt xấp xỉ bằng 68% và 73% thấp hơn so với khi chỉ điều trị bằng aripiprazol (30 mg). Tương tự như vậy, số trung bình nhân của Cmax và AUC của dehydro-aripiprazol sau khi kết hợp dùng đồng thời với carbamazepin lần lượt xấp xỉ bằng 69% và 71% thấp hơn so với khi chỉ điều trị bằng aripiprazol.
Cần tăng liều aripiprazol lên gấp đôi khi dùng đồng thời aripiprazol với carbamazepin. Các thuốc gây cảm ứng mạnh khác của CYP3A4 (như rifampin, rifabutin, phenytoin, phenobarbital, primidon, efavirenz, nevirapin và St. John Wort) có thể có hiệu ứng tương tự do đó nên áp dụng tăng liều aripiprazol. Sau khi ngưng dùng thuốc gây cảm ứng CYP3A4 mạnh, nên giảm liều lượng của aripiprazol tới mức liều khuyến cáo.
Khi dùng đồng thời valproat hoặc lithi với aripiprazol, nồng độ aripiprazol không có thay đổi đáng kể về mặt lâm sàng.
Khả năng aripiprazol gây tác động lên các dược phẩm khác:
- Trong các nghiên cứu lâm sàng, các liều aripiprazol từ 10-30 mg/ngày dùng 1 lần không có tác động đáng kể đến quá trình chuyển hóa của các chất nền của CYP2D6 (tỉ lệ dextromethorphan/3-methoxymorphinan), 2C9 (warfarin), 2C19 (omeprazol), và 3A4 (dextromethorphan). Ngoài ra, aripiprazol và dehydro-aripiprazol không thể hiện tiềm năng làm thay đổi quá trình chuyển hóa qua trung gian CYP1A2 in vitro. Do đó, không có khả năng gây ra các tương tác thuốc nghiêm trọng về mặt lâm sàng được trung gian bởi các enzym này.
- Khi dùng đồng thời aripiprazol với valproat, lithi hoặc lamotrigin, không thấy có thay đổi đáng kể về mặt lâm sàng trong nồng độ valproat, lithi hoặc lamotrigin.
Thận trọng khi sử dụng
Trong quá trình điều trị chống loạn thần, phải cần từ vài ngày đến vài tuần mới cải thiện được tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị.
Hành vi tự tử vốn dĩ rất phổ biến ở các bệnh nhân mắc bệnh tâm thần và rối loạn tâm lý, và đã có một vài trường hợp được báo cáo khi mới bắt đầu hoặc chuyển sang điều trị chống loạn thần, bao gồm cả điều trị với aripiprazol. Cần giám sát chặt chẽ những bệnh nhân có nguy cơ tự tử cao khi điều trị rối loạn tâm thần. Theo kết quả của một nghiên cứu dịch tễ học, điều trị bằng aripiprazol cho các bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt hay rối loạn lưỡng cực sẽ hạn chế sự gia tăng nguy cơ tự tử so với các loại thuốc chống loạn thần khác.
Cần thận trọng khi dùng aripiprazol ở bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh tim mạch (tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim, hoặc các bất thường dẫn truyền), bệnh mạch máu não, những bệnh nhân có tình trạng dễ dẫn tới hạ huyết áp (mất nước, giảm lưu lượng máu, và bệnh nhân đang điều trị với thuốc chống tăng huyết áp, hoặc bệnh nhân mắc chứng cao huyết áp, bao gồm cả cao huyết áp gia tốc hoặc cao huyết áp ác tính).
Các trường hợp bệnh nhân mắc chứng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) đã được ghi nhận là có liên quan tới việc dùng thuốc chống loạn thần. Do những bệnh nhân điều trị bằng thuốc chống loạn thần thường dễ có nguy cơ mắc thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, cần lưu ý tới tất cả các yếu tố nguy cơ trước và trong khi điều trị với aripiprazol, đồng thời thực hiện các biện pháp phòng ngừa.
Các bất thường dẫn truyền:
Trong các thử nghiệm lâm sàng, tỉ lệ mắc chứng QT kéo dài ở bệnh nhân sử dụng thuốc aripiprazole tương đương với tỉ lệ người bệnh dùng giả dược. Cũng giống như các loại thuốc chống loạn thần khác, cần thận trọng khi sử dụng aripiprazol cho những bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc chứng QT kéo dài.
Rối loạn vận động muộn:
Trong các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trong thời gian một năm hoặc ít hơn đã ghi nhận một vài trường hợp điều trị rối loạn vận động muộn khi dùng thuốc aripiprazol. Nếu bệnh nhân điều trị bằng aripiprazol có các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn vận động muộn, cần giảm liều hoặc ngưng dùng thuốc. Những triệu chứng này có thể tạm thời trở nên xấu hơn hoặc thậm chí có thể phát sinh sau khi đã ngưng điều trị.
Hội chứng an thần kinh ác tính (NMS):
NMS là một hội chứng phức tạp có khả năng gây tử vong liên quan đến các thuốc chống loạn thần. Trong các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân điều trị với aripiprazole ghi nhận được rất ít các trường hợp mắc chứng NMS. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng an thần kinh ác tính là sốt cao, cứng cơ, thay đổi trạng thái tinh thần và xuất hiện tình trạng bất ổn định tự phát (mạch không đều hoặc huyết áp không ổn định, tim đập nhanh, toát mồ hôi và rối loạn nhịp tim). Các dấu hiệu khác bao gồm tăng nồng độ creatin phosphokinas, tiêu cơ vân và suy thận cấp. Tuy nhiên, hiện tượng tăng nồng độ creatin phosphokinase và tiêu cơ vân có thể không hoàn toàn liên quan tới hội chứng NMS. Nếu bệnh nhân có dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng NMS, hoặc có hiện tượng sốt cao không rõ nguyên nhân nhưng không kèm theo các biểu hiện lâm sàng của hội chứng NMS thì cần phải ngưng điều trị với các thuốc chống loạn thần kể cả aripiprazol.
Động kinh:
Các thử nghiệm lâm sàng đã ghi nhận một vài trường hợp động kinh không phổ biến trong quá trình điều trị với aripiprazol. Do đó, cần thận trọng khi dùng aripiprazol ở những bệnh nhân có tiền sử rối loạn tâm thần động kinh hoặc có khả năng bị động kinh.
Bệnh nhân cao tuổi mắc chứng mất trí do rối loạn tâm thần:
• Tỉ lệ tử vong gia tăng: Trong ba thử nghiệm đối chứng với giả dược (n= 938; ở độ tuổi: 56-99 tuổi, tuổi trung bình: 82,4 tuổi) ở bệnh nhân cao tuổi mắc chứng rối loạn tâm thần liên quan tới bệnh Alzheimer, nhóm bệnh nhân được điều trị bằng aripiprazol có nguy cơ tử vong cao hơn so với nhóm được điều trị bằng giả dược. Tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân điều trị với aripiprazol là 3,5% so với nhóm điều trị với giả dược là 1,7%. Mặc dù nguyên nhân gây tử vong thường khác nhau nhưng hầu hết các trường hợp tử vong là do bệnh lý tim mạch (như suy tim, đột tử) hoặc do bệnh truyền nhiễm tự nhiên (như viêm phổi).
• Tai biến mạch máu não: Cũng trong các thử nghiệm này, những trường hợp tai biến mạch máu não (như đột quỵ, cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua), bao gồm cả các trường hợp tử vong, đã được báo cáo ở những bệnh nhân cao tuổi (tuổi trung bình: 84; độ tuổi: 78-88 tuổi). Nhìn chung, 1,3% số bệnh nhân được điều trị với aripiprazol có ghi nhận các cơn tai biến mạch máu não, so với tỉ lệ 0,6% số bệnh nhân dùng giả dược. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, ở một trong các thử nghiệm này, một thử nghiệm liều cố định, đã ghi nhận mối liên hệ đáng kể giữa đáp ứng liều với các cơn tai biến mạch máu não ở những bệnh nhân được điều trị với aripiprazol.
• Aripiprazol không được chỉ định điều trị rối loạn tâm thần liên quan đến chứng mất trí.
Tăng đường huyết và bệnh đái tháo đường:
Tăng đường huyết, trong một số trường hợp diễn biến xấu và dẫn tới nhiễm ceton acid hoặc hôn mê hay tử vong do hội chứng tăng đường huyết bệnh đái tháo đường đã được ghi nhận ở những bệnh nhân điều trị với các loại thuốc chống an thần không điển hình, kể cả aripiprazol. Các yếu tố nguy cơ có thể khiến bệnh nhân gặp các biến chứng nghiêm trọng bao gồm bệnh béo phì và tiền sử gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường.
Các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân sử dụng thuốc aripiprazol cho thấy tỷ lệ tác dụng không mong muốn có liên quan đến tăng đường huyết (bao gồm bệnh đái tháo đường) hoặc kết quả xét nghiệm đường huyết bất thường không chênh lệch đáng kể so với nhóm bệnh nhân sử dụng giả dược. Không có kết quả so sánh ước tính nguy cơ chính xác của tác dụng không mong muốn liên quan đến tăng đường huyết ở những bệnh nhân được điều trị với aripiprazol và với các loại thuốc chống loạn thần không điển hình khác.
Bệnh nhân được điều trị với bất kỳ loại thuốc chống loạn thần nào, kể cả aripiprazol, cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng đường huyết (như cảm giác đói, thèm ăn, đi tiểu nhiều và cảm thấy mệt mỏi) và bệnh nhân bị đái tháo đường hoặc có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường cũng cần được theo dõi thường xuyên để kiểm soát lượng glucose trong máu.
Quá mẫn:
Cũng giống như với các loại dược phẩm khác, phản ứng quá mẫn, đặc trưng bởi các triệu chứng dị ứng, có thể xảy ra với aripiprazol.
Tăng cân:
Tăng cân thường thấy ở những bệnh nhân tâm thần phân liệt và hưng cảm lưỡng cực, do khi mắc các bệnh này, người sử dụng thuốc chống loạn thần sẽ có hiện tượng tăng cân, kém tỉnh táo, và có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng. Sau khi aripiprazol được đưa vào sử dụng trên thị trường, đã có ghi nhận hiện tượng tăng cân ở những bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc. Tăng cân thường xảy ra ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như có tiền sử mắc bệnh đái tháo đường, rối loạn tuyến giáp hoặc adenoma tuyến yên. Trong các thử nghiệm lâm sàng, aripiprazol được chứng minh là không gây tăng cân liên quan về mặt lâm sàng.
Chứng khó nuốt:
Điều trị với thuốc chống loạn thần, kể cả aripiprazol, có thể gây ra rối loạn vận động thực quản và khó hít vào. Cần thận trọng khi sử dụng aripiprazol và các hoạt chất chống loạn thần khác ở những bệnh nhân có nguy cơ bị viêm phổi hít sặc.
Chứng nghiện cờ bạc bệnh lý:
Các báo cáo hậu lưu hành về chứng nghiện cờ bạc bệnh lý đã được ghi nhận ở những bệnh nhân được chỉ định dùng aripiprazol, bất kể những bệnh nhân này có tiền sử chơi cờ bạc hay không. Những bệnh nhân có tiền sử nghiện cờ bạc bệnh lý có thể có nguy cơ cao hơn và cần được theo dõi chặt chẽ.
Không dung nạp:
Viên nén aripiprazol có chứa lactose. Bệnh nhân có vấn đề về di truyền hiếm gặp là không dung nạp được galactose, thiếu men lactase hoặc khó hấp thu glucose-galactose không nên dùng viên nén aripiprazol.
Thai kỳ và cho con bú
Khả năng sinh sản, thời kì mang thai, và thời kì cho con bú
Chưa có các thử nghiệm đầy đủ và được kiểm soát chặt chẽ về tác dụng của thuốc chống loạn thần aripiprazol đối với phụ nữ đang mang thai. Hiện tượng đột biến gen đã được ghi nhận, tuy nhiên, vẫn chưa có kết luận chính thức là do tác dụng của aripiprazol. Các nghiên cứu trên động vật không thể loại trừ hết khả năng phát triển độc tố của thuốc ở con người. Bệnh nhân cần thông báo cho bác sĩ nếu đang mang thai hoặc có kế hoạch sinh con trong thời gian điều trị. Do chưa có các thông tin đầy đủ về mức độ an toàn của thuốc đối với cơ thể người và những lo ngại thông qua các kết quả nghiên cứu được thực hiện đối với hệ sinh sản của động vật, loại thuốc này không được dùng cho phụ nữ mang thai trừ khi xem xét mức độ cần thiết cho bệnh nhân cao hơn những nguy cơ rủi ro tiềm tàng đối với thai nhi.
Thai nhi phơi nhiễm với các loại thuốc chống loạn thần (bao gồm cả aripiprazol) trong ba tháng cuối của thai kỳ sẽ có nguy cơ xuất hiện các tác dụng không mong muốn bao gồm hội chứng ngoại tháp và/hoặc triệu chứng nghiện thuốc và mức độ ảnh hưởng sẽ nghiêm trọng hơn và kéo dài sau khi sinh. Đã có báo cáo ghi nhận về triệu chứng tâm lý bồn chồn, tăng trương lực, giảm trương lực, run, buồn ngủ, suy hô hấp, hoặc rối loạn trong ăn uống. Do đó, cần theo dõi chặt chẽ các triệu chứng bệnh ở trẻ sơ sinh.
Aripiprazol được bài tiết trong sữa của chuột mẹ đang cho con bú sau khi dùng thuốc. Aripiprazol có được bài tiết qua sữa mẹ ở người hay không chưa được xác định. Bệnh nhân nên được cảnh báo không nên cho con bú nếu đang điều trị bằng aripiprazol.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc
Bệnh nhân cần thận trọng khi lái xe hoặc vận hành máy móc vì thuốc có thể gây chóng mặt, buồn ngủ, nhức đầu, mệt mỏi, mắt mờ.
Tác dụng phụ
Tác dụng phụ
- Hay gặp: hội chứng giống cúm, đau ngực, cứng cổ, cứng đầu chi, đau cổ, đau vùng chậu.
- Ít gặp: phù mặt, ý tưởng tự vẫn, khó ở, nhức nửa đầu, ớn lạnh, nhạy cảm ánh sáng, cảm giác căng cứng (ở bụng, ngực, lưng, đầu chi, đầu, hàm, cổ, lưỡi) đau hàm, đầy bụng, căng bụng, căng ngực, đau họng.
- Hiếm: moniliase, nặng đầu, sưng họng, hội chứng Mendelson, đột qụy.
Hệ tim mạch:
- Hay gặp: nhịp tim nhanh (bao gồm nhịp nhanh thất và trên thất), hạ huyết áp, nhịp tim chậm.
- Ít gặp: đánh trống ngực, chảy máu, suy tim, nhồi máu cơ tim, ngừng tim, rung nhĩ, blốc nhĩ thất, kéo dài đoạn QT, ngoại tâm thu, thiếu máu cục bộ cơ tim, huyết khối tĩnh mạch sâu, đau thắt ngực, xanh xao, ngưng tim ngưng thở, viêm tĩnh mạch.
- Hiếm: blốc nhánh, cuồng động nhĩ, tim to, viêm tĩnh mạch huyết khối, suy tim – hô hấp.
Hệ tiêu hoá:
- Hay gặp: buồn nôn, nôn.
- Ít gặp: tăng thèm ăn, nuốt khó, viêm dạ dày – ruột, đầy bụng, sâu răng, viêm dạ dày, viêm lợi, xuất huyết tiêu hóa, trĩ, trào ngược dạ dày – thực quản, áp xe quanh răng, đại tiện không kiềm chế được, chảy máu trực tràng, viêm miệng, viêm ruột kết, phù lưỡi, viêm túi mật, loét miệng, moniliase miệng, ợ hơi, chèn ép phân.
- Hiếm: viêm thực quản, ói máu, tắc ruột, chảy máu lợi, viêm gan, loét đường tiêu hóa, viêm lưỡi, tiêu ra máu, loét tá tràng, viêm môi, gan to, viêm tụy.
Hệ nội tiết:
- Ít gặp: suy giáp.
- Hiếm: bướu giáp, cường giáp.
Hệ máu / Bạch huyết:
- Hay gặp: bầm máu, thiếu máu.
- Ít gặp: thiếu máu nhược sắc, tăng bạch cầu, giảm bạch cầu (kể cả giảm bạch cầu trung tính), bệnh hạch bạch huyết, tăng bạch cầu ưa eosin, thiếu máu đại hồng cầu.
- Hiếm: giảm tiểu cầu, tăng tạo tiểu cầu, đốm xuất huyết.
Rối loạn chuyển hoá / dinh dưỡng:
- Hay gặp: giảm cân, tăng creatin – phosphokinase, mất nước.
- Ít gặp: phù, tăng đường huyết, tăng cholesterol máu, giảm kali máu, đái tháo đường, hạ đường huyết, tăng lipid máu, tăng SGPT, khát, tăng BUN, hạ natri máu, tăng SGOT, tăng creatinin, tím xanh, tăng phosphatase kiềm, bilirubin máu, thiếu máu thiếu sắt, tăng kali máu, tăng acid uric máu, béo phì.
- Hiếm: tăng lactic-delydrogenase, tăng natri máu, gút, phản ứng hạ đường huyết.
Hệ cơ xương:
- Hay gặp: Chuột rút.
- Ít gặp: đau khớp, nhược cơ, bệnh khớp, đau xương, viêm khớp, yếu cơ, co thắt cơ, viêm túi thanh mạc, bệnh cơ.
- Hiếm: viêm khớp dạng thấp, tiêu cơ vân, viêm gân, viêm bao hoạt dịch.
Hệ thần kinh:
- Hay gặp: trầm cảm, kích động, phản ứng tâm thần phân liệt, ảo giác, chống đối, lẫn lộn, phản ứng hoang tưởng, ý tưởng tự vẫn, dáng đi bất thường, phản ứng hưng cảm, giấc mơ bất thường.
- Ít gặp: cảm xúc thất thường, co giật, co cứng các chi, mất tập trung, rối loạn trương lực, giãn mạch, dị cảm, bất lực, run chân tay, giảm cảm giác, chóng mặt, trạng thái ngẩn ngơ, vận động chậm, lãnh đạm, tấn công hoảng loạn, giảm dục năng, ngủ nhiều, rối loạn vận động, phản ứng hưng cảm-trầm cảm, thất điều, ảo giác về thị giác, tai biến mạch não, vận động chậm chạp, mất nhân cách, mất trí nhớ, mê sảng, loạn vận ngôn, rối loạn vận động muộn, hay quên, tăng dục năng, máy cơ, bồn chồn không yên, bệnh thần kinh, cảm giác khó chịu, tăng động, thiếu máu cục bộ não, tăng phản xạ, mất vận động, giảm nhận thức, tăng cảm giác, suy nghĩ chậm chạp.
- Hiếm: cảm giác cùn mòn, sảng khoái, mất điều hoà động tác, cơn tăng vận nhãn, bị ám ảnh, giảm trương lực, hội chứng miệng-hầu, giảm phản xạ, mất thực tế, chảy máu trong sọ.
Hệ hô hấp:
- Hay gặp: viêm xoang, khó thở, viêm phổi, hen.
- Ít gặp: chảy máu cam, nấc, viêm thanh quản, viêm phổi do hít.
- Hiếm: phù phổi, tăng tiết đờm, tắc mạch phổi, thiếu oxy, suy hô hấp, ngừng thở, khô mũi, ho ra máu.
Da và phần phụ da:
- Hay gặp: loét da, chảy mồ hôi, da khô.
- Ít gặp: ngứa, phát ban phù nhú, trứng cá, chàm, mất màu da, rụng tóc, tăng tiết bã nhờn, vảy nến.
- Hiếm: ban sần, viêm da tróc vảy, mày đay.
Giác quan:
- Hay gặp: viêm kết mạc.
- Ít gặp: đau tai, khô mắt, đau mắt, ù tai, cườm mắt, viêm tai giữa, giảm vị giác, viêm mi mắt, chảy máu mắt, điếc.
- Hiếm: nhìn đôi, hay nháy mắt, sa mí mắt, viêm tai ngoài, giảm thị lực, sợ ánh sáng.
Hệ tiết niệu:
- Hay gặp: đái không kìm được.
- Ít gặp: hay tiểu tiện, khí hư, bí tiểu, viêm bàng quang, đái ra máu, tiểu khó, mất kinh, chảy máu âm đạo, xuất tinh bất thường, suy thận, moniliase âm đạo, bệnh thận, vú to ở đàn ông, sỏi thận, albumin niệu, đau vú, tiểu đau.
- Hiếm: đái đêm, tiểu nhiều, rong kinh, không đạt cực khoái khi hoạt động tình dục, đường niệu, viêm cổ tử cung, chảy máu tử cung, chảy sữa ở nữ, sỏi niệu, cương đau dương vật.
Lưu ý
Thận trọng khi sử dụng
Hội chứng an thần ác tính:
Đã có báo cáo về một hội chứng có khả năng gây tử vong đôi khi được quy là hội chứng an thần ác tính khi dùng các thuốc chống loạn thần, kể cả aripiprazole. Hai trường hợp có thể là hội chứng an thần ác tính đã xảy ra trong khi dùng aripiprazole trong cơ sở dữ liệu lâm sàng toàn thế giới trước khi đưa thuốc ra thị trường. Các biểu hiện lâm sàng gồm sốt cao, cứng đờ cơ, trạng thái tâm thần thay đổi, và biểu hiện không ổn định về thần kinh tự chủ (mạch hoặc huyết áp không đều, nhịp tim nhanh, toát mồ hôi và loạn nhịp tim). Các dấu hiệu phụ có thể gồm: tăng creatin phosphokinase, myoglobin niệu, suy thận cấp.
Việc chẩn đoán hội chứng này phức tạp. Để chẩn đoán, cần loại ra những trường hợp có biểu hiện lâm sàng gồm bệnh nặng (như viêm phổi, nhiễm khuẩn toàn thân…) và các dấu hiệu, triệu chứng ngoại tháp không được điều trị hoặc điều trị không đầy đủ. Những điều cần quan tâm khác trong chẩn đoán phân biệt gồm độc tính ức chế thần kinh phó giao cảm trung tâm, cảm nhiệt, sốt do thuốc, và bệnh hệ thần kinh trung ương nguyên phát.
Việc điều trị hội chứng an thần ác tính có thể gồm:
- Ngưng lập tức thuốc chống loạn thần và các thuốc khác không cần cho liệu pháp phối hợp.
- Điều trị triệu chứng và theo dõi tình hình bệnh.
- Điều trị mọi vấn đề y khoa nghiêm trọng đồng thời với những liệu pháp đặc hiệu.
- Không có sự thống nhất chung về các chế độ điều trị dùng thuốc đặc hiệu đối với hội chứng an thần ác tính không phức tạp.
- Nếu một bệnh nhân cần điều trị với thuốc chống loạn thần sau khi phục hồi khỏi hội chứng an thần ác tính, cần cân nhắc việc dùng thuốc trở lại. Cần theo dõi bệnh nhân, vì đã có báo cáo về những tái phát của hội chứng an thần ác tính.
Loạn vận động muộn:
Một hội chứng các cử động loạn vận động không tùy ý có khả năng không phục hồi có thể xảy ra ở bệnh nhân điều trị với các thuốc chống loạn thần. Mặc dù tỷ lệ của hội chứng có vẻ cao nhất ở những người cao tuổi, đặc biệt ở phụ nữ cao tuổi, tuy nhiên không thể dùng nó để tiên đoán khi bắt đầu liệu pháp chống loạn thần rằng bệnh nhân nào có khả năng bị hội chứng này. Các chế phẩm thuốc chống loạn thần có khác nhau về khả năng gây loạn vận động muộn hay không, điều này chưa được biết rõ.
Người ta cho rằng nguy cơ xảy ra loạn vận động muộn và khả năng loạn vận động trở nên không phục hồi tăng lên khi thời gian điều trị và tổng liều tích lũy của thuốc chống loạn thần dùng cho bệnh nhân tăng lên. Tuy vậy, hội chứng cũng có thể xảy ra, mặc dầu ít gặp hơn nhiều, sau thời gian điều trị tương đối ngắn ở liều thấp.
Chưa có trị liệu chuyên biệt đối với các trường hợp loạn vận động đã được xác định, tuy nhiên hội chứng có thể tự thuyên giảm, một phần hoặc hoàn toàn, nếu ngừng trị liệu chống loạn thần. Tuy vậy, bản thân trị liệu chống loạn thần có thể chặn (hoặc chặn một phần) các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng và do đó, có thể che dấu những diễn tiến bên trong. Hiện chưa biết rõ tác dụng của việc chặn các triệu chứng trên quá trình diễn biến dài hạn của hội chứng.
Dựa trên những cân nhắc này, có thể chỉ định sử dụng Aripiprazole một cách phù hợp để giảm thiểu xảy ra loạn vận động muộn. Nói chung, nên dành trị liệu chống loạn thần lâu dài cho các bệnh nhân bị bệnh mạn tính được biết là có đáp ứng với thuốc chống loạn thần, và các liệu pháp khác có hiệu quả tương đương, nhưng có thể ít nguy hại hơn đối với bệnh đó thì lại không có hoặc không thích hợp. Đối với các bệnh nhân cần điều trị lâu dài, nên tìm ra liều nhỏ nhất và thời gian điều trị ngắn nhất mà cho hiệu quả lâm sàng tốt. Nhu cầu điều trị tiếp tục cần được định kỳ đánh giá lại.
Nếu các dấu hiệu và triệu chứng của loạn vận động muộn xuất hiện ở một bệnh nhân đang điều trị với Aripiprazole, nên xem xét việc ngừng thuốc. Tuy nhiên, mặc dầu có hội chứng, một số bệnh nhân vẫn cần được điều trị với Aripiprazole.
Hạ huyết áp tư thế:
Aripiprazole có thể gây hạ huyết áp tư thế, có thể do sự đối kháng của thuốc với thụ thể giao cảm alpha1. Tần suất của các hiện tượng liên quan đến hạ huyết áp tư thế được rút ra từ 5 thử nghiệm ngắn hạn có kiểm chứng với placebo, ở bệnh tâm thần phân liệt (n=926) được điều trị với Aripiprazole bao gồm: hạ huyết áp tư thế đứng (placebo 1%, aripiprazole 1,9%, chóng mặt thế đứng (placebo 1%, aripiprazole 0,9%), và ngất (placebo 1%, aripiprazole 0,6%). Tỉ lệ của sự thay đổi huyết áp tư thế có ý nghĩa (được xác định là sự giảm ít nhất 30 mmHg về huyết áp tâm thu khi thay đổi từ tư thế nằm ngửa sang đứng) đối với aripiprazole không khác nhau có ý nghĩa so với placebo (14%) trong các bệnh nhân điều trị với aripiprazole và 12% trong các bệnh nhân điều trị với placebo).
Dùng aripiprazole một cách thận trọng ở bệnh nhân đã được biết có bệnh tim mạch (tiền sử nhồi máu cơ tim, thiếu máu cục bộ tim, suy tim và những bất thường về dẫn truyền), bệnh mạch máu não hoặc các điều kiện dẫn tới giảm huyết áp (như mất nước, mất máu và điều trị với các thuốc chống tăng huyết áp).
Cơn động kinh:
Động kinh gặp ở 0,1% (1/926) bệnh nhân tâm thần phân liệt dùng aripiprazole ngắn ngày, trong thử nghiệm so sánh placebo. Trong thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn có kiểm soát, so sánh với placebo, trên bệnh nhân bị hưng cảm lưỡng cực, có 0,3% (2/597) bệnh nhân dùng aripiprazole và 0,2% (1/436) bệnh nhân dùng placebo bi động kinh. Cũng như với các thuốc tâm thần khác, cần dùng thận trọng aripiprazole ở người có tiền sử động kinh hoặc có các điều kiện làm giảm ngưỡng động kinh, ví dụ sa sút trí tuệ kiểu Alzheimer. Các điều kiện làm giảm ngưỡng cơn động kinh có thể trội ở người cao tuổi ≥ 65 tuổi.
Suy giảm nhận thức và vận động:
Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, thấy buồn ngủ có ở 11% bệnh nhân nhóm Aripiprazole so với 8% ở nhóm placebo. Buồn ngủ phải ngừng thuốc ở 0,1% (1/926) bệnh nhân tâm thần phân liệt dùng Aripiprazole trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo. Trong thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn có kiểm soát, so sánh với placebo, trên bệnh nhân bị hưng cảm lưỡng cực, có 14% bệnh nhân dùng Aripiprazole bị buồn ngủ so với tỉ lệ là 7% ở bệnh nhân dùng placebo, nhưng không có trường hợp nào khiến bệnh nhân phải ngưng thuốc. Mặc dầu tỷ lệ buồn ngủ hơi tăng hơn placebo, Aripiprazole cũng như các thuốc chống loạn thần khác cũng có thể làm suy giảm nhận thức hoặc sự khéo léo về vận động. Bệnh nhân cần thận trọng khi thao tác các máy móc dễ bị rủi ro, như lái xe, cho đến khi chắc chắn rằng dùng Aripiprazole không gây tác hại.
Điều hoà thân nhiệt:
Thuốc tâm thần có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng làm giảm thân nhiệt của cơ thể. Cần thận trọng khi kê đơn aripiprazole cho bệnh nhân trong điều kiện dẫn tới tăng thân nhiệt, ví dụ lao động quá căng thẳng, nhiệt độ môi trường quá cao, phối hợp với các thuốc kháng cholinergic hoặc bị mất nước.
Khó nuốt:
Rối loạn co bóp thực quản và sặc hay gặp khi dùng thuốc chống loạn thần. Viêm phổi do sặc là nguyên nhân hay gặp của tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi, đặc biệt ở người sa sút trí tuệ Alzheimer. Cần dùng thận trọng aripiprazole và các thuốc chống loạn thần khác ở người có nguy cơ viêm phổi do sặc.
Tự vẫn:
Ý định tự vẫn vốn dễ có ở người bệnh tâm thần và cần lưu ý chặt chẽ đến bệnh nhân có nguy cơ cao trong khi dùng thuốc. Khi kê toa Aripiprazole, cần kê lượng ít nhất phù hợp với nguyên tắc điều trị bệnh nhân tốt để giảm nguy cơ quá liều.
Sử dụng ở bệnh nhân có kèm bệnh khác:
Độ an toàn ở bệnh nhân cao tuổi có bệnh loạn thần kèm bệnh Alzheimer:
Với liều linh động (2-15mg/ngày), dùng trong 10 tuần, có kiểm soát placebo, dùng aripiprazole ở người cao tuổi [81,5 (56-95) tuổi] bị loạn thần kèm bệnh Alzheimer. Có 4/105 bệnh nhân (3,8%) dùng Aripiprazole bị tử vong so với không có ai chết ở 102 người dùng placebo trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc giai đoạn mù kép của nghiên cứu. Có 3 bệnh nhân (tuổi: 92, 91, 87) tử vong sau khi ngừng Aripiprazole ở pha mù kép của nghiên cứu (nguyên nhân tử vong là viêm phổi, suy tim và sốc). Bệnh nhân thứ tư (78 tuổi) tử vong sau khi phẫu thuật hông trong khi đang ở giai đoạn mù đôi của nghiên cứu. Các hiện tượng có hại do thuốc có tần suất ≥ 5% và có tần suất cao hơn ở nhóm placebo là tổn thương do tai nạn, buồn ngủ và viêm phế quản. Có 8% người dùng Aripiprazole bị buồn ngủ so với 1% ở nhóm placebo. Trong một nghiên cứu nhỏ, mở, với liều tăng dần (n = 30) ở người già sa sút trí tuệ, thấy Aripiprazole gây buồn ngủ phụ thuộc liều dùng.
Chưa đánh giá được hiệu lực và độ an toàn của Aripiprazole dùng điều trị người loạn thần kèm sa sút trí tuệ. Khi kê đơn Aripiprazole cho những đối tượng này, cần đặc biệt cảnh giác nếu bệnh nhân có khó khăn về nuốt hoặc quá buồn ngủ.
Kinh nghiệm lâm sàng với Aripiprazole ở bệnh nhân có bệnh toàn thân kèm theo còn hạn chế.
Chưa đánh giá sử dụng Aripiprazole ở bệnh nhân vừa có tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc bệnh tim không ổn định.
Sử dụng trong nhi khoa:
Chưa xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc đối với trẻ em và thanh niên.
Sử dụng trong lão khoa:
Thử nghiệm lâm sàng trước khi đưa ra thị trường trên 7951 bệnh nhân dùng aripiprazole, trong số đó có 991 (12%) người trên 65 tuổi và 789 (10%) trên 75 tuổi. Phần lớn (88%) trong số 991 bệnh nhân được chẩn đoán là sa sút trí tuệ Alzheimer.
Nghiên cứu có kiểm soát placebo về việc sử dụng aripiprazole ở người tâm thần phân liệt hoặc hưng cảm lưỡng cực không có đủ số lượng những người ≥ 65 tuổi để xác định xem họ có đáp ứng khác người trẻ tuổi không? Không có ảnh hưởng của tuổi tác đến dược động học của đơn liều 15mg aripiprazole. Độ thanh lọc của thuốc này giảm 20% ở người cao tuổi (> 65 tuổi) so với người trẻ tuổi (18-64 tuổi), nhưng không tìm thấy ảnh hưởng của tuổi khi phân tích dược động học theo quần thể ở người tâm thần phân liệt.
Nghiên cứu trên người cao tuổi bị bệnh loạn thần kèm Alzheimer cho thấy có thể có khả năng dung nạp khác nhau ở các đối tượng này so với người trẻ bị tâm thần phân liệt. Hiệu lực và độ an toàn của Aripiprazole dùng chữa bệnh nhân loạn thần kèm theo Alzheimer chưa được xác định. Bác sĩ nên cảnh giác khi chọn Aripiprazole cho các đối tượng này.
Thai kỳ và cho con bú
Cân nhắc và hỏi ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi dùng thuốc. Các thuốc dù đã kiểm nghiệm vẫn có những nguy cơ khi sử dụng.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc
Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc cho người lái xe và vận hành máy móc.
Tương tác thuốc
Aripiprazole tác dụng chủ yếu trên thần kinh trung ương, cho nên thận trọng khi phối hợp Aripiprazole với rượu và các thuốc tác động lên thần kinh trung ương. Do có tác dụng đối kháng ở thụ thể alpha1-adrenergic, nên aripiprazole có khả năng làm tăng tác dụng của một số thuốc chống tăng huyết áp.
Ảnh hưởng của các thuốc khác đối với Aripiprazole:
Aripiprazole không phải là cơ chất của các enzym CYP1A1, CYP1A2, CYP2A6, CYP2B6, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19 hoặc CYP2E1. Aripiprazole cũng không bị trực tiếp liên hợp glucuronic. Điều này cho thấy không thể có tương tác giữa aripiprazole với các chất ức chế hoặc các chất cảm ứng các enzym trên, hoặc không có tương tác với các yếu tố khác như hút thuốc lá.
Cả CYP3A4 và CYP2D6 đều chịu trách nhiệm về chuyển hoá của aripiprazole. Những chất cảm ứng CYP3A4 (như carbamazepine) có thể làm tăng thanh lọc aripiprazole và làm giảm hàm lượng của thuốc này trong máu. Thuốc ức chế CYP3A4 (như ketoconazole) hoặc ức chế CYP2D6 (như quinidine, fluoxetin hoặc paroxetine) có thể ức chế sự đào thải của aripiprazole và gây tăng nồng độ aripiprazole trong máu.
Ketoconazole:
Phối hợp ketoconazole (mỗi ngày 200mg, dùng trong 14 ngày) với liều đơn 15mg aripiprazole làm tăng AUC của aripiprazole lên 63% và AUC của chất chuyển hoá có hoạt tính lên 77%. Chưa nghiên cứu về tác dụng của liều ketoconazole cao hơn (400mg mỗi ngày). Khi có phối hợp như trên, cần giảm nửa liều thường dùng của aripiprazole. Các chất ức chế mạnh CYP3A4 (như itraconazole) cũng có tác dụng như trên, do đó cần giảm liều aripiprazole khi dùng chung. Chưa có nghiên cứu các chất ức chế yếu CYP3A4 (như erythromycin, nước bưởi). Khi ngưng dùng thuốc ức chế CYP3A4 trong phối hợp, có thể tăng lại liều aripiprazole tới liều thường dùng.
Quinidine:
Phối hợp liều đơn 10mg aripiprazole với quinidine (mỗi ngày 166mg, dùng trong 13 ngày). Quinidine là chất ức chế mạnh CYP2D6, sẽ làm tăng AUC của aripiprazole lên 112%, nhưng làm giảm 35% AUC của chất chuyển hoá có hoạt tính (dehydro-aripiprazole). Cần giảm nửa liều thường dùng của aripiprazole khi phối hợp.
Các chất ức chế khác của CYP2D6, như fluoxetin, paroxetin có thể cũng có ảnh hưởng như trên và do đó cũng nên giảm liều aripiprazole. Khi ngưng dùng chất ức chế CYP2D6 trong phối hợp thuốc, có thể tăng lại liều aripiprazole.
Carbamazepine:v
Phối hợp carbamazepine (200mg, hai lần mỗi ngày) là chất cảm ứng mạnh CYP3A4 với aripiprazole (mỗi ngày 30 mg) sẽ làm giảm 70% Cmax và giá trị AUC của cả aripiprazole và của chất chuyển hoá có hoạt tính (dehydro-aripiprazole). Khi thêm carbamazepine vào liệu pháp aripiprazole, cần tăng gấp đôi liều aripiprazole. Liều lượng thêm vào cần dựa vào đánh giá lâm sàng. Khi rút carbamazepine ra khỏi phối hợp trên, cần giảm liều aripiprazole trở lại.
Không thấy ảnh hưởng rõ rệt của famotidine, valproat hoặc của lithium trên dược động học của aripiprazole.
Ảnh hưởng của Aripiprazole tới các thuốc khác:
Aripiprazole không có tương tác dược động học có ý nghĩa lâm sàng tới các thuốc chuyển hoá qua enzym cytochrome P450. Nghiên cứu in vivo, với liều 10-30 mg/ngày, thấy aripiprazole không ảnh hưởng tới chuyển hoá bởi các cơ chất của CYP2D6 (dextromethorphan), CYP2C9 (warfarin), CYP2C19 (omeprazole, warfarin) và CYP3A4 (dextromethorphan). Ngoài ra, aripiprazole và dehydro-aripiprazole in vitro không làm thay đổi chuyển hoá của thuốc khác qua CYP1A2.
Rượu:
Không có khác biệt có ý nghĩa giữa aripiprazole phối hợp với ethanol và placebo + ethanol trên biểu hiện khéo léo về vận động hoặc vè đáp ứng với các xung kích thích ở người khỏe mạnh. Tuy nhiên, cũng như với nhiều thuốc tâm thần khác, bệnh nhân cần được cảnh báo không uống rượu khi đang dùng Aripiprazole.
Cách dùng – Liều dùng
Cách dùng
Thuốc Aritero 10mg dạng viên nén dùng đường uống.
Liều dùng
Người lớn
Liều dùng cho bệnh nhân tâm thần phân liệt:
- Liều aripiprazol khởi đầu khuyến cáo là 10 hoặc 15 mg/ngày với liều duy trì 15 mg/ngày dùng mỗi ngày một lần và thời điểm dùng thuốc không liên quan đến bữa ăn.
- Aripiprazol đạt hiệu quả trong phạm vi liều từ 10 đến 30 mg/ngày.
- Việc tăng hiệu quả của thuốc với các liều cao hơn liều 15 mg/ngày chưa được chứng minh mặc dù một số bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ liều cao hơn. Liều tối đa hàng ngày không nên vượt quá 30 mg.
Liều dùng điều trị các cơn hưng cảm:
- Liều aripiprazol khởi đầu khuyến cáo là 15 mg dùng mỗi ngày một lần cùng hoặc không cùng bữa, như liệu pháp điều trị đơn hoặc điều trị kết hợp.
- Một số bệnh nhân có thể hưởng lợi từ liều cao hơn.
- Liều tối đa hàng ngày không nên vượt quá 30 mg.
Liều dùng phòng ngừa tái phát cơn hưng cảm trong rối loạn lưỡng cực I:
- Để phòng ngừa sự tái phát các cơn hưng cảm ở bệnh nhân đã điều trị với aripiprazol trong liệu trình điều trị đơn hoặc điều trị kết hợp, nên tiếp tục điều trị với cùng mức liều lượng.
Việc điều chỉnh liều dùng hàng ngày, bao gồm cả giảm liều dùng cần được xem xét dựa trên cơ sở tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.
Trẻ em
Liều dùng điều trị tâm thần phân liệt ở thiếu niên từ 15 tuổi trở lên:
- Liều khuyến cáo của Aripiprazol là uống mỗi ngày một lần 10 mg cùng hoặc không cùng bữa ăn.
- Điều trị nên được bắt đầu với liều 2 mg ngày 1 lần (dùng dung dịch uống aripiprazol 1 mg/ml) trong 2 ngày đầu, sau đó chuẩn độ lên 5 mg trong 2 ngày tiếp theo để đạt tới liều khuyến cáo là 10 mg ngày uống 1 lần.
- Khi thích hợp, cần tăng liều tiếp theo thêm 5 mg nhưng không được vượt quá liều tối đa hàng ngày 30 mg.
- Aripiprazol đạt hiệu quả trong phạm vi liều từ 10 đến 30 mg/ngày. Việc tăng hiệu quả của thuốc với các liều cao hơn liều 10 mg/ngày ở đối tượng thiếu niên chưa được chứng minh mặc dù một số bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ liều cao hơn.
Đối tượng khác
- Không khuyến cáo điều trị với Aripiprazol ở bệnh nhân dưới 15 tuổi do không có đủ dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của thuốc ở những bệnh nhân này.
Bệnh nhân suy gan:
- Không cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân suy gan nhẹ đến vừa, chưa có đủ dữ liệu khuyến cáo dùng thuốc ở bệnh nhân suy gan nặng.
- Cần thận trọng khi tính toán liều lượng ở những bệnh nhân này.
- Tuy nhiên, nên thận trọng khi điều chỉnh liều tối đa 30mg/ngày ở bệnh nhân suy gan nặng.
Bệnh nhân suy thận:
- Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận.
Người cao tuổi:
- Hiệu quả của aripiprazol trong điều trị tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực I ở bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên chưa được xác định.
- Do sự nhạy cảm với thuốc cao hơn ở nhóm bệnh nhân này, cần xem xét liều khởi đầu thấp hơn khi các yếu tố lâm sàng cho phép.
Giới tính:
- Không cần điều chỉnh liều ở nữ giới so với nam giới.
Hút thuốc:
- Dựa theo đường chuyển hóa của aripiprazol, không cần điều chỉnh liều ở những người hút thuốc.
Điều chỉnh liều do tương tác thuốc:
- Cần giảm liều Aripiprazol khi dùng đồng thời các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 hoặc CYP2D6.
- Cần tăng liều Aripiprazol khi ngưng điều trị kết hợp với các chất ức chế CYP3A4 hoặc CYP2D6.
- Cần tăng liều Aripiprazol khi dùng đồng thời với các chất gây cảm ứng mạnh CYP3A4.
- Cần giảm liều Aripiprazol xuống mức liều khuyến cáo khi ngưng điều trị kết hợp với chất gây cảm ứng CYP3A4.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Thông tin sản xuất
Bảo quản:
- Nơi khô ráo, dưới 30 độ C.
- Tránh ánh sáng.
Quy cách:Hộp 3 vỉ x 10 viên
Nơi sản xuất: Ấn Độ
Nhà sản xuất: Hetero Labs Limited




Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.