Thành phần
1 mg/liều
Một ml dung dịch chứa 1,34 mg Semaglutide. Một bút tiêm được bơm sẵn thuốc có chứa 4 mg Semaglutide trong 3 ml dung dịch. Mỗi liều chứa 1 mg Semaglutide trong 0,74 ml dung dịch.
Chỉ định
Ozempic® được chỉ định dùng để điều trị đái tháo đường típ 2 chưa được kiểm soát ở người trưởng thành như là một liệu pháp phối hợp với chế độ ăn và tập luyện.
– Đơn trị liệu khi metformin được xem là không phù hợp do không dung nạp hoặc chống chỉ định.
– Phối hợp với các sản phẩm thuốc khác trong điều trị đái tháo đường.
Dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc dùng để điều trị đái tháo đường, đồng vận thụ thể glucagon-like peptide-1 (GLP-1), mã ATC: A10BJ06
Cơ chế tác dụng
Semaglutide là một loại đồng vận thụ thể GLP-1 với 94% trình tự đồng nhất với GLP-1 người.
Semaglutide hoạt động như là một đồng vận thụ thể GLP-1 liên kết chọn lọc và kích hoạt thụ thể GLP-1, mục tiêu của GLP-1 nội sinh.
GLP-1 là hormone sinh lý có nhiều hoạt động điều hòa glucose và sự thèm ăn, và trên hệ tim mạch. Tác dụng lên glucose và sự thèm ăn đặc hiệu qua thụ thể GLP-1 ở tụy và não.
Semaglutide giảm đường huyết theo phương thức phụ thuộc vào đường huyết bằng cách kích thích bài tiết insulin và giảm bài tiết glucagon khi đường huyết cao. Cơ chế hạ đường huyết còn liên quan nhỏ đến việc chậm làm rỗng dạ dày trong giai đoạn sớm sau ăn. Khi hạ đường huyết, semaglutide giảm bớt bài tiết insulin và không làm suy giảm sự bài tiết glucagon.
Semaglutide giảm cân nặng và khối lượng mỡ qua cơ chế giảm năng lượng nhập, liên quan đến giảm thèm ăn toàn bộ. Hơn nữa, semaglutide giảm thèm ăn các thức ăn nhiều chất béo.
Các thụ thể GLP-1 còn biểu hiện ở tim, mạch máu, hệ miễn dịch và thận. Semaglutide có tác dụng có lợi lên nồng độ lipid huyết tương, giảm huyết áp tâm thu và giảm quá trình viêm trong các nghiên cứu lâm sàng. Trong các nghiên cứu trên mô hình động vật, semaglutide làm giảm tiến triển của quá trình xơ vữa bằng cách phòng ngừa diễn tiến của mảng xơ vữa động mạch chủ và giảm phản ứng viêm trên mảng xơ vữa.
Hiệu quả dược lý
Các đánh giá dược lý được thực hiện sau 12 tuần điều trị (bao gồm tăng liều) ở trạng thái ổn định với semaglutide 1mg 1 lần 1 tuần.
Đường huyết đói và sau ăn
Semaglutide giảm nồng độ đường huyết đói và sau ăn. Ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, điều trị với semaglutide 1mg dẫn đến giảm đường huyết tuyệt đối so với ban đầu (mmol/L) và giảm tương đối so với placebo (%) cho đường huyết đói (1,6 mmol/L; giảm 22%), đường huyết 2 giờ sau ăn (4,1 mmol/L; giảm 37%), đường huyết trung bình 24 giờ (1,7 mmol/L; giảm 22%) và đường biểu diễn đường huyết sau ăn qua 3 bữa ăn (0,6 – 1,1 mmol/L) so với placebo. Semaglutide giảm đường huyết đói sau liều đầu.
Chức năng tế bào Beta và sự bài tiết insulin
Semaglutide cải thiện chức năng tế bào beta. So với placebo, semaglutide cải thiện đáp ứng insulin pha đầu và pha hai với sự gia tăng nồng độ lần lượt là 3 và 2 lần, và tăng khả năng bài tiết tối đa của tế bào beta ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2. Hơn nữa, điều trị với semaglutide tăng nồng độ insulin khi đói so với placebo.
Bài tiết glucagon
Semaglutide giảm nồng độ glucagon đói và sau ăn. Ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, semaglutide dẫn đến giảm tương đối glucagon so với placebo: đáp ứng glucagon lúc đói (8 – 21%), sau ăn (14 – 15%) và nồng độ glucagon trung bình 24 giờ (12%).
Bài tiết insulin và glucagon phụ thuộc đường huyết
Semaglutide làm giảm nồng độ đường huyết tăng cao bằng cách kích thích bài tiết insulin và giảm bài tiết glucagon phụ thuộc vào nồng độ đường huyết. Với semaglutide, tốc độ bài tiết insulin ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 là tương đương với người khỏe mạnh.
Khi làm hạ đường huyết, semaglutide không làm thay đổi đáp ứng điều hòa đối kháng gia tăng glucagon và không làm ảnh hưởng đến sự giảm sút của C-peptide ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 so với giả dược.
Làm rỗng dạ dày
Semaglutide gây chậm làm rỗng dạ dày nhẹ ở giai đoạn sớm sau ăn, vì vậy làm giảm tốc độ xuất hiện của glucose trong hệ tuần hoàn sau ăn.
Sự thèm ăn, năng lượng nhập vào và sự lựa chọn thực phẩm
Semaglutide giảm năng lượng nhập vào của 3 bữa ăn tuỳ thích từ 18 – 35% so với giả dược. Điều này là do sự ức chế thèm ăn của semaglutide ở trạng thái đói cũng như sau khi ăn, cải thiện kiểm soát ăn uống, giảm mong muốn tiêu thụ thực phẩm và giảm tương đối sự thích thú đối với thức ăn giàu chất béo.
Lipid khi đói và sau ăn
Semaglutide giảm nồng độ lần lượt triglyceride đói và cholesterol có lipoproteins tỉ trọng rất thấp (VLDL) 12% và 21%. Đáp ứng triglyceride và VLDL cholesterol sau bữa ăn giàu chất béo giảm >40%.
Điện sinh lý ở tim (QTc)
Ảnh hưởng của semaglutide lên tái khử cực tim được kiểm tra trong suốt nghiên cứu QTc. Semaglutide không kéo dài khoảng QTc ở mức liều lên đến 1,5mg ở trạng thái ổn định.
Dược động học
So với GLP-1 nội sinh, semaglutide có thời gian bán huỷ kéo dài khoảng 1 tuần giúp cho nó phù hợp để sử dụng tiêm dưới da 1 tuần 1 lần. Cơ chế phóng thích chính là dựa vào khả năng liên kết với albumin, dẫn đến giảm thanh thải qua thận và bảo vệ chúng khỏi các phân rã chuyển hóa. Hơn nữa, semaglutide ổn định chống lại tác dụng thoái hóa của men DPP-4.
Hấp thu
Nồng độ tối đa đạt được sau khi sử dụng 1 đến 3 ngày. Trạng thái ổn định đạt được sau 4 – 5 tuần sử dụng 1 lần 1 tuần. Ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, nồng độ trung bình ở trạng thái ổn định sau khi tiêm dưới da 0,5mg và 1mg semaglutide lần lượt vào khoảng 16 nmol/L và 30 nmol/L. Lượng semaglutide trong cơ thể tăng tỷ lệ với liều dùng cho các liều 0,5mg và 1mg. Lượng thuốc trong cơ thể đạt được tương tự nhau khi tiêm dưới da semaglutide ở vùng bụng, đùi hoặc cánh tay. Sinh khả dụng tuyệt đối của semaglutide tiêm dưới da là 89%.
Phân bố
Thể tích phân bố trung bình của semaglutide sau khi tiêm dưới da ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 vào khoảng 12,5 L. Semaglutide liên kết đa phần vào albumin huyết tương (>99%).
Chuyển hóa sinh học
Trước khi bài tiết, semaglutide được chuyển hóa rộng rãi thông qua cơ chế phân cắt protein của chuỗi peptide chính và sau đó là beta oxi hóa phần acid béo ở chuỗi bên. Men neutral endopeptidase (NEP) được cho rằng có liên quan đến chuyển hóa của semaglutide.
Thải trừ
Trong một nghiên cứu sử dụng liều đơn semaglutide tiêm dưới da được đánh dấu phóng xạ, kết quả cho thấy đường bài tiết chủ đạo của các thành phần liên quan đến semaglutide là qua nước tiểu và phân; khoảng 2/3 thành phần liên quan đến semaglutide được bài xuất qua nước tiểu và khoảng 1/3 qua phân.
Khoảng 3% liều thuốc được bài tiết dạng semaglutide nguyên vẹn qua nước tiểu. Ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, độ thanh thải semaglutide vào khoảng 0,05 L/giờ. Với thời gian bán hủy bài tiết khoảng 1 tuần, semaglutide sẽ hiện diện trong tuần hoàn khoảng 5 tuần sau liều cuối.
Dân số đặc biệt
Người lớn tuổi
Tuổi không ảnh hưởng lên dược động học của semaglutide dựa vào dữ liệu từ các nghiên cứu bao gồm bệnh nhân từ 20 – 86 tuổi.
Giới, dân tộc và chủng tộc
Giới, chủng tộc (da trắng, da đen hoặc người Mỹ gốc Phi, Châu Á) và dân tộc (Tây Ban Nha hoặc Latinh, không Tây Ban Nha hoặc không Latinh) không ảnh hưởng đến dược động học của semaglutide.
Cân nặng
Cân nặng ảnh hưởng đến lượng tiếp xúc của semaglutide. Cân nặng càng cao dẫn đến lượng tiếp xúc càng thấp; 20% khác biệt cân nặng giữa các cá thể dẫn đến khoảng 16% khác biệt ở lượng tiếp xúc. Liều semaglutide 0,5mg và 1mg cung cấp đủ lượng tiếp xúc hệ thống cho cân nặng trong khoảng 40 – 198 kg.
Suy thận
Suy thận không ảnh hưởng đến dược động học của semaglutide trên lâm sàng. Điều này được chứng minh với liều đơn 0,5mg semaglutide cho các bệnh nhân suy thận ở các mức độ khác nhau (nhẹ, trung bình, nặng hoặc chạy thận) so với các đối tượng có chức năng thận bình thường. Điều này cũng được chứng minh ở các đối tượng đái tháo đường típ 2 có suy thận dựa trên các dữ liệu từ các nghiên cứu pha 3a, dù kinh nghiệm sử dụng ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối còn hạn chế.
Suy gan
Suy gan không ảnh hưởng đến lượng tiếp xúc của semaglutide. Dược động học của semaglutide được đánh giá ở bệnh nhân suy gan ở các mức độ khác nhau (nhẹ, trung bình, nặng) so với các đối tượng có chức năng gan bình thường trong một nghiên cứu sử dụng liều đơn 0,5mg semaglutide.
Dân số trẻ em
Semaglutide chưa được nghiên cứu ở bệnh nhi.
Tính sinh miễn dịch
Sự phát triển của kháng thể kháng semaglutide khi điều trị bằng semaglutide 1mg và 2,4mg xảy ra không thường xuyên và phản ứng dường như không ảnh hưởng đến dược động học của semaglutide.
Hướng dẫn sử dụng
Cách dùng
Ozempic® được dùng 1 lần 1 tuần vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, cùng hoặc không cùng bữa ăn.
Ozempic® được tiêm dưới da ở vùng bụng, đùi hoặc cánh tay. Vị trí tiêm có thể thay đổi mà không cần chỉnh liều thuốc. Ozempic® không nên tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
Ngày tiêm thuốc mỗi tuần có thể thay đổi nếu cần miễn là thời gian giữa 2 liều thuốc ít nhất là 3 ngày (>72 giờ). Sau khi chọn 1 ngày tiêm thuốc mới, tiếp tục dùng liều 1 lần 1 tuần.
Thận trọng đặc biệt khi hủy bỏ và các thao tác khác
Bệnh nhân được khuyên nên bỏ kim tiêm sau mỗi lần tiêm và trữ bút không gắn kim tiêm. Việc này có thể giúp tránh tắc kim, bội nhiễm, nhiễm khuẩn, rò thuốc và liều thuốc không chính xác. Kim tiêm và các vật liệu thải khác cần được xử lý theo đúng các yêu cầu sở tại.
Bút chỉ dùng cho 1 người.
Ozempic® không nên dùng nếu dung dịch không có dạng trong, không màu hoặc gần như không màu.
Ozempic® không nên dùng nếu đã bị trữ đông.
Ozempic® có thể dùng với kim tiêm có chiều dài lên đến 8 mm. Bút được thiết kế để sử dụng với kim dùng 1 lần NovoFine hoặc NovoTwist®. Kim NovoFine® Plus được bao gồm trong hộp thuốc.
Liều dùng
Liều khởi đầu là 0,25mg semaglutide 1 lần 1 tuần. Sau 4 tuần nên tăng liều lên 0,5mg 1 lần 1 tuần. Sau ít nhất 4 tuần với liều 0,5mg 1 lần 1 tuần, có thể tăng liều đến 1mg 1 lần 1 tuần để cải thiện kiểm soát đường huyết.
Semaglutide 0,25mg không phải là liều duy trì. Liều mỗi tuần cao hơn 1mg không được khuyến cáo.
Khi Ozempic® được thêm vào điều trị metformin và/hoặc thiazolidinedione sẵn có, liều hiện tại của metformin và/hoặc thiazolidinedione có thể tiếp tục không cần thay đổi.
Khi Ozempic® được thêm vào điều trị sulfonylurea hoặc insulin, cần cân nhắc giảm liều sulfonylurea hoặc insulin để giảm nguy cơ hạ đường huyết.
Việc tự theo dõi đường huyết là không cần thiết để chỉnh liều Ozempic®. Tuy nhiên, khi khởi trị với Ozempic® phối hợp với sulfonylurea hoặc insulin, việc tự theo dõi đường huyết là cần thiết để chỉnh liều sulfonylurea và insulin để giảm nguy cơ hạ đường huyết.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Người lớn tuổi
Không cần chỉnh liều theo tuổi. Kinh nghiệm điều trị ở bệnh nhân ≥75 tuổi còn giới hạn.
Suy thận
Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận mức độ nhẹ, trung bình hoặc nặng.
Kinh nghiệm sử dụng semaglutide ở bệnh nhân suy thận nặng còn giới hạn. Semaglutide không được khuyến cáo sử dụng cho bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối.
Suy gan
Không cần chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan. Kinh nghiệm sử dụng semaglutide ở bệnh nhân suy gan nặng còn giới hạn. Cần thận trọng khi điều trị những bệnh nhân này với semaglutide.
Nhóm bệnh nhân trẻ em
Tính an toàn và hiệu quả của semaglutide ở trẻ em và trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi chưa được xác định.
Không có dữ liệu sẵn có.
Làm gì khi dùng quá liều?
Quá liều lên đến 4mg trong 1 liều đơn, và lên đến 4mg trong 1 tuần đã được báo cáo ở các nghiên cứu lâm sàng. Phản ứng bất lợi thường được báo cáo nhất là buồn nôn. Tất cả các bệnh nhân đều hồi phục mà không hề có biến chứng.
Không có thuốc đối kháng đặc hiệu cho trường hợp quá liều với semaglutide. Trong trường hợp quá liều, điều trị hỗ trợ phù hợp nên được tiến hành tùy theo triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân. Thời gian quan sát và điều trị cho các triệu chứng này có thể kéo dài có thể cần thiết, do thời gian bán hủy dài của semaglutide lên đến khoảng 1 tuần.
Làm gì khi quên 1 liều?
Nếu 1 liều bị bỏ lỡ, nên dùng 1 liều càng sớm càng tốt và trong vòng 5 ngày sau liều bị bỏ lỡ. Nếu hơn 5 ngày, nên bỏ qua liều bị bỏ lỡ, và liều tiếp theo nên được dùng bình thường vào đúng lịch trình. Trong mỗi trường hợp, bệnh nhân sau đó có thể quay lại dùng liều thông thường 1 lần 1 tuần theo đúng lịch.
Tác dụng phụ
– Tóm tắt hồ sơ an toàn
Trong 8 nghiên cứu pha 3a 4.792 bệnh nhân được dùng semaglutide. Các phản ứng phụ thường được báo cáo nhất trong các nghiên cứu lâm sàng là rối loạn tiêu hóa, bao gồm buồn nôn (rất phổ biến), tiêu chảy (rất phổ biến) và nôn ói (phổ biến). Nhìn chung, các phản ứng này ở mức độ nhẹ hoặc trung bình và không kéo dài.
– Bảng liệt kê các phản ứng phụ
Bảng 1 liệt kê các phản ứng phụ được xác định trong tất cả các nghiên cứu pha 3a ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2. Tần suất các phản ứng phụ dựa trên dữ liệu tổng hợp từ các nghiên cứu pha 3a ngoại trừ nghiên cứu đánh giá an toàn tim mạch.
Các phản ứng liệt kê dưới đây theo hệ cơ quan và tần suất tuyệt đối.
Trong mỗi nhóm tần suất, phản ứng bất lợi được thể hiện theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần.
(Xem thêm chi tiết trong tờ HDSD)
– Nghiên cứu tính an toàn và kết cục tim mạch trong 2 năm
Trong dân số nguy cơ tim mạch cao, hồ sơ phản ứng bất lợi tương tự với các nghiên cứu.
– Mô tả một số phản ứng bất lợi chọn lọc
Hạ đường huyết
Không có cơn hạ đường huyết nghiêm trọng được ghi nhận khi dùng semaglutide đơn trị liệu.
Hạ đường huyết nghiêm trọng được ghi nhận chủ yếu khi semaglutide được dùng phối hợp với sulfonylurea (1,2% đối tượng, 0,03 biến cố/bệnh nhân năm) hoặc insulin (1,5% đối tượng, 0,02 biến cố/bệnh nhân năm). Vài biến cố (0,1% đối tượng, 0,001 biến cố/bệnh nhân năm) được ghi nhận với semaglutide khi phối hợp với thuốc đái tháo đường dạng uống khác không phải sulfonylurea.
Phản ứng bất lợi trên đường tiêu hóa
Buồn nôn xảy ra trong lần lượt 17,0% và 19,9% bệnh nhân khi điều trị với semaglutide 0,5mg và 1mg, tiêu chảy ở 12,2% và 13,3% và nôn ói ở 6,4% và 8,4%. Hầu hết các biến cố đều có mức độ nhẹ và đến trung bình và diễn ra trong thời gian ngắn. Các biến cố dẫn đến ngưng điều trị ở 3,9% và 5% số bệnh nhân. Các biến cố thường xuyên được báo cáo trong tháng đầu tiên của điều trị.
Bệnh nhân có cân nặng thấp có thể gặp tác dụng phụ tiêu hóa nhiều hơn khi điều trị với semaglutide.
Viêm tụy cấp
Tần suất viêm tụy cấp được báo cáo trong thử nghiệm lâm sàng lần lượt là 0,3% với semaglutide và 0,2% với thuốc so sánh. Trong 2 năm nghiên cứu kết cục tim mạch tần suất biến cố viêm tụy cấp được xác nhận là 0,5% với semaglutide và 0,6% với giả dược.
Biến chứng võng mạc do đái tháo đường
Nghiên cứu lâm sàng 2 năm ở 3.297 bệnh nhân đái tháo đường típ 2, có nguy cơ tim mạch cao, mắc đái tháo đường đã lâu và kiểm soát đường huyết kém. Trong nghiên cứu này, các biến cố về biến chứng võng mạc do đái tháo đường xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân được điều trị với semaglutide (3%) so với giả dược (1,8%). Điều này cũng được ghi nhận ở bệnh nhân đái tháo đường được điều trị bằng insulin với bệnh võng mạc do đái tháo đường đã biết. Sự khác biệt trong điều trị xuất hiện sớm và duy trì trong suốt nghiên cứu. Đánh giá toàn diện biến chứng võng mạc do đái tháo đường chỉ được thực hiện trong nghiên cứu an toàn tim mạch. Trong các nghiên cứu lâm sàng kéo dài lên đến 1 năm liên quan 4.807 bệnh nhân đái tháo đường típ 2, các biến cố bất lợi liên quan đến bệnh võng mạc do đái tháo đường được báo cáo có tỷ lệ tương tự giữa các đối tượng được điều trị bằng semaglutide (1,7%) và các thuốc so sánh (2,0%).
Ngưng thuốc do biến cố bất lợi
Tần suất ngưng điều trị do các biến cố bất lợi lần lượt là 6,1% và 8,7% ở bệnh nhân điều trị semaglutide 0,5 mg và 1 mg, so với 1,5% ở nhóm giả dược. Biến cố bất lợi thường gặp nhất dẫn đến ngưng thuốc là tác dụng phụ trên đường tiêu hóa.
Các phản ứng tại vị trí tiêm
Các phản ứng tại vị trí tiêm (ví dụ như nổi ban, ban đỏ tại vị trí tiêm) được báo cáo lần lượt là 0,6% và 0,5% bệnh nhân được điều trị bằng semaglutide 0,5mg và 1mg. Các phản ứng này thường nhẹ.
Tính sinh miễn dịch
Tính sinh miễn dịch đồng nhất với các sản phẩm thuốc có chứa protein hoặc peptide, bệnh nhân có thể xuất hiện các kháng thể sau điều trị với semaglutide. Tỷ lệ bệnh nhân xét nghiệm dương tính với kháng thể anti-semaglutide tại bất kỳ thời điểm nào sau điều trị là thấp (1 – 3%) và không có bệnh nhân nào có kháng thể trung hòa anti-semaglutide hoặc kháng thể anti-semaglutide với tác dụng trung hòa GLP-1 nội sinh tại thời điểm cuối nghiên cứu.
Gia tăng nhịp tim
Gia tăng nhịp tim được ghi nhận với các thuốc đồng vận thụ thể GLP-1. Trong các nghiên cứu ghi nhận nhịp tim tăng trung bình 1 đến 6 nhịp mỗi phút (bpm) từ nhịp ban đầu 72 đến 76 bpm ở các đối tượng được điều trị bằng Ozempic®. Trong nghiên cứu kéo dài ở các đối tượng có các yếu tố nguy cơ tim mạch, 16% đối tượng điều trị bằng Ozempic® gia tăng nhịp tim >10 bpm so với 11% của đối tượng dùng giả dược sau 2 năm điều trị.
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.
Thông tin sản xuất
Điều kiện bảo quản:Từ 2⁰C đến 8⁰C
Nơi sản xuất: Đan Mạch
Nhà sản xuất: Novo Nordisk A/S












Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.