Thành phần
Tenofovir disoproxil fumarat (tương ứng Tenofovir disoproxil 245 mg)
Công dụng của Fovirpoxil
Chỉ định (Thuốc dùng cho bệnh gì?)
HIV-1
Fovirpoxil được chỉ định kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác để điều trị nhiễm HIV-1 ở người lớn.
Ở người lớn, hiệu quả của tenofovir dựa trên các kết quả của một nghiên cứu điều trị cho các bệnh nhân chưa từng điều trị trước đó, bao gồm các bệnh nhân có tải lượng virus lớn (> 100000 bản sao/ml) và các nghiên cứu trong đó tenofovir được dùng bổ sung vào liệu pháp điều trị cơ bản (chủ yếu là liệu pháp kết hợp 3 thuốc) cho bệnh nhân trước đó đã từng điều trị thuốc chống retrovirus nhưng thất bại (<10000 bản sao/ml, với phần lớn có < 5000 bản sao/ml)
Fovirpoxil cũng được chỉ định điều trị nhiễm HIV-1 ở thanh thiếu niên, kháng NRTI hoặc không thể sử dụng các thuốc bước đầu do độc tính, từ 12-18 tuổi.
Điều trị thuốc chống retrovirus trước đó phải dựa trên kết quả xét nghiệm tính đề kháng virus của mỗi cá nhân và/hoặc tiền sử điều trị của bệnh nhân.
Viêm gan B:
Fovirpoxil được chỉ định cho điều trị viêm gan B mạn tính ở người lớn với:
– Chức năng gan còn bù, với bằng chứng hoạt động nhân bản của virus, nồng độ alanine aminotrasferase (ALT) tăng cao liên tục và bằng chứng mô học của viêm đang hoạt động và/hoặc xơ hóa
– Bằng chứng virus viêm gan B kháng lamivudine.
– Bệnh gan mất bù.
Fovirpoxil được chỉ định cho điều trị viêm gan B mạn tính ở thanh thiếu niên từ 12 đến 18 tuổi với :
Bệnh gan còn bù, và bằng chứng bệnh miễn dịch hoạt động như nhân bản virus hoạt động, nồng độ (ALT) huyết thanh tăng cao liên tục và bằng chứng mô học của viêm đang hoạt động và/hoặc xơ hóa.
Hướng dẫn sử dụng:
Cách dùng:
Dùng đường uống, uống một lần mỗi ngày cùng với bữa ăn
Liều dùng:
Điều trị nên bắt đầu bởi 1 bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV và/hoặc viêm gan B mạn tính.
Người lớn:
Liều đề nghị cho điều trị HIV hoặc điều trị viêm gan B mạn tính là uống 1 viên 1 lần/ngày cùng với bữa ăn..
Viêm gan B mạn tính:
Thời gian tối ưu điều trị chưa được biết rõ. Việc ngừng điều trị có thể được xem xét như sau:
– Ở những bệnh nhân HBeAg dương tính không xơ gan, nên điều trị ít nhất 6-12 tháng sau chuyển đảo huyết thanh HBe (mất HBeAg và mất HBV DNA với sự phát hiện anti-HBe) được xác định hoặc cho đến khi chuyển đảo HBs hoặc mất hiệu quả
– Ở những bệnh nhân HBeAg âm tính không xơ gan, nên điều trị ít nhất cho đến khi chuyển đảo huyết thanh HBs hoặc có bằng chứng về mất hiệu lực. Với điều trị kéo dài hơn 2 năm, khuyến cáo thường xuyên đánh giá lại để xác định là tiếp tục liệu pháp điều trị đã chọn vẫn thích hợp cho bệnh nhân.
Trẻ em
HIV-1:
Đối với thanh thiếu niên từ 12 tuổi đến 18 tuổi và ≥ 35 kg, liều khuyến cáo là uống 1 viên 1 lần/ngày cùng với bữa ăn.
Trẻ em từ 2 đến < 12 tuổi nhiễm HIV-1 sử dụng dạng bào chế khác và/hoặc hàm lượng thấp hơn thích hợp.
Tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarate ở trẻ dưới 2 tuổi bị nhiễm HIV-1 chưa được xác định. Không có dữ liệu.
Viêm gan B mạn tính:
Đối với thanh thiếu niên từ 12 tuổi đến 18 tuổi và ≥ 35 kg, liều khuyến cáo là uống 1 viên 1 lần/ngày cùng với bữa ăn. Thời gian điều trị tối ưu chưa xác định.
Tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarate ở trẻ viêm gan B mạn tính từ 2 tuổi đến– 12 tuổi hoặc dưới 35 kg chưa được xác định. Không có dữ liệu.
Nhóm đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi
Không có dữ liệu để đưa ra liều khuyến cáo đối với bệnh nhân trên 65 tuổi.
Suy thận
Tenofovir được thải trừ qua thận và phơi nhiễm tenofovir tăng lên ở những bệnh nhângiảm chức năng thận.
Người lớn
Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarate ở bệnh nhân suy thận trung bình và nặng (độ thanh thải creatinin <50 ml/phút) còn hạn chế và dữ liệu về độ an toàn lâu dài chưa được đánh giá cho suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin 50- 80 ml/phút). Vì vậy, ở những bệnh nhân bị suy thận, tenofovir disoproxil fumarate chỉ nên được sử dụng nếu lợi ích tiềm năng của điều trị được coi là vượt trội hơn các nguy cơ tiềm ẩn.
Suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin 50-80 ml/phút)
Dữ liệu còn hạn chế từ các nghiên cứu lâm sàng hỗ trợ với liều duy nhất 245 mg tenofovir disoproxil (dạng fumarate) ở bệnh nhân suy thận nhẹ.
Suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin 30-49 ml/phút)
Nếu không có dạng bào chế và hàm lượng khác thích hợp khác, có thể sử dụng viên 245 mg tenofovir disoproxil với khoảng cách liều kéo dài. Có thể sử dụng 245 mg tenofovir disoproxil (dạng fumarate) uống mỗi 48 giờ dựa trên mô hình hóa dữ liệu dược động học liều đơn ở những đối tượng HIV âm tính và không nhiễm HBV với mức độ suy thận khác nhau, bao gồm bệnh thận giai đoạn cuối cần thẩm tách máu, nhưng chưa được xác nhận trong các nghiên cứu lâm sàng. Vì vậy cần theo dõi chặt chẽ đáp ứng lâm sàng đối với điều trị và chức năng thận ở những bệnh nhân này.
Suy thận nặng (độ thanh thải creatinine <30 ml/phút) và bệnh nhân thẩm phân máu.
Nếu không có dạng bào chế và hàm lượng khác thích hợp khác, có thể sử dụng viên 245 mg tenofovir disoproxil với khoảng cách liều kéo dài như sau:
Suy thận nặng: 1 viên có thể được dùng mỗi 72-96 giờ (dùng hai lần một tuần).
Bệnh nhân thẩm phân máu: 1 viên có thể được dùng mỗi tuần sau khi hoàn tất một phiên thẩm tách máu*.
Việc điều chỉnh khoảng cách liều này chưa được xác nhận trong các thử nghiệm lâm sàng. Các mô phỏng cho thấy sử dụng viên 245 mg tenofovir disoproxil với khoảng cách liều kéo dài không phải là tối ưu và có thể làm tăng độc tính và có thể đáp ứng không đầy đủ. Vì vậy cần theo dõi chặt chẽ đáp ứng lâm sàng đối với điều trị và chức năng thận.
* Thông thường, liều dùng 1 lần/tuần trong trường hợp thẩm tách máu 3 lần/tuần, mỗi lần khoảng 4 giờ hoặc sau tổng 12 giờ thẩm tách máu.
Không có liều đề nghị cho bệnh nhân không thẩm tách máu có độ thanh thải creatinine < 10 ml/phút.
Trẻ em
Việc sử dụng Fovirpoxil không được khuyến cáo ở trẻ em suy thận.
Suy gan
Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan.
Nếu ngưng dùng Fovirpoxil ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính có hoặc không có bội nhiễm HIV, những bệnh nhân này nên được theo dõi chặt chẽ chứng cứ của sự trầm trọng của viêm gan.”
Tác dụng phụ
HIV-1: khoảng 1/3 bệnh nhân có thể sẽ gặp phải các phản ứng không mong muốn khi điều trị với tenofovir disoproxil fumarate kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác. Những phản ứng này thường là các biến cố đường tiêu hóa từ nhẹ đến trung bình.
Không khuyến cáo sử dụng kết hợp Fovirpoxil và didanosine vì kết quả có thể tăng nguy cơ gặp phải các phản ứng không mong muốn. Các trường hợp hiếm viêm tụy, toan acid lactic, đôi khi tử vong đã được báo cáo.
Viêm gan B: khoảng 1/4 bệnh nhân có thể sẽ gặp phải các phản ứng không mong muốn khi điều trị với tenofovir disoproxil fumarate, hầu hết là nhẹ. Trong các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân nhiễm HBV, phản ứng không mong muốn xảy ra thường xuyên nhất đối với tenofovir disoproxil fumarate là buồn nôn.
Tình trạng viêm gan trầm trọng cấp tính đã được báo cáo trên bệnh nhân điều trị cũng như đã ngừng điều trị viêm gan B
Lưu ý
Thận trọng (Những lưu ý khi dùng thuốc)
Cần thực hiện xét nghiệm kháng thể HIV cho tất cả những bệnh nhân nhiễm HBV trước khi bắt đầu điều trị với tenofovir disoproxil fumarate.
HIV-1
Mặc dù việc ức chế virus hiệu quả bằng liệu pháp kháng retrovirus đã được chứng minh là làm giảm đáng kể nguy cơ lây truyền tình dục, nhưng không thể loại bỏ được nguy cơ còn sót lại. Biện pháp phòng ngừa để ngăn ngừa lây nhiễm cần được thực hiện theo hướng dẫn quốc gia.
Viêm gan B mạn tính:
Phải khuyến cáo các bệnh nhân rằng tenofovir disoproxil fumarate chưa được chứng minh là có thể ngăn được nguy cơ lan truyền HBV qua quan hệ tình dục hoặc máu nhiễm virus. Cần tiếp tục sử dụng các biện pháp phòng ngừa khác.
Sử dụng đồng thời với các thuốc khác
Không nên dùng Fovirpoxil đồng thời với các thuốc khác có chứa tenofovir disoproxil fumarate hoặc tenofovir alafenamide.
Không nên dùng Fovirpoxil đồng thời với adefovir dipivoxil.
Không khuyến cáo dùng chung tenofovir disoproxil fumarate và didanosine.
Dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarate và didanosine làm tăng phơi nhiễm hệ thống với didanosine 40-60% mà nó có thể làm tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn liên quan đến didanosine. Hiếm gặp, viêm tụy và toan acid lactic, đôi khi gây tử vong, đã được báo cáo.
Sử dụng đồng thời tenofovir disoproxil fumarate và didanosine với liều 400 mg mỗi ngày có liên quan đến sự giảm đáng kể số lượng tế bào CD4, có thể là do sự tương tác nội bào làm tăng phosphoryl hóa (có hoạt tính) didanosine.
Việc giảm liều 250 mg didanosine sử dụng đồng thời với tenofovir disoproxil fumarate có liên quan đến các báo cáo về tỷ lệ thất bại cao về diệt virus trong nhiều kết hợp để điều trị nhiễm HIV-1.
Phác đồ điều trị kết hợp 3 thuốc nucleoside/nucleotide
Đã có những báo cáo về tỷ lệ thất bại cao trong diệt virus và kháng thuốc rõ rệt vào giai đoạn sớm ở bệnh nhân HIV khi tenofovir disoproxil fumarate được kết hợp với lamivudine và abacavir cũng như kết hợp với lamivudine và didanosine trong phác đồ một lần một ngày.
Tác dụng ở thận và xương người lớn
Tác dụng ở thận
Tenofovir được thải trừ chủ yếu qua thận. Suy thận, thận hư, tăng creatinin, giảm phosphate máu và tubulopathy thận gần (bao gồm hội chứng Fanconi) đã được báo cáo với việc sử dụng tenofovir disoproxil fumarate trên lâm sàng.
Theo dõi thận
Khuyến cáo rằng độ thanh thải creatinine được tính toán ở tất cả các bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarate và chức năng thận (độ thanh thải creatinin và phosphate huyết thanh) cũng được theo dõi sau 2-4 tuần điều trị, sau ba tháng điều trị và mỗi ba đến sáu tháng sau đó ở bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ thận. Ở những bệnh nhân có nguy cơ bị suy thận, cần theo dõi chức năng thận thường xuyên hơn.
Quản lý bệnh thận
Nếu phosphate huyết thanh <1,5 mg / dl (0,48 mmol/l) hoặc độ thanh thải creatinine giảm xuống <50 ml/phút ở bất kỳ người lớn nào dùng tenofovir disoproxil fumarate, nên đánh giá lại chức năng thận trong vòng một tuần, bao gồm đo glucose huyết , kali máu và nồng độ glucose trong nước tiểu.
Cũng nên cân nhắc việc tạm ngưng điều trị tenofovir disoproxil fumarate ở những bệnh nhân người lớn có thanh thải creatinin xuống <50 ml/phút hoặc giảm phosphate huyết thanh xuống <1,0 mg/dl (0,32 mmol/l). Điều trị gián đoạn bằng tenofovir disoproxil fumarate cũng nên được xem xét trong trường hợp tiến triển suy giảm chức năng thận mà không tìm được nguyên nhân nào khác.
Sử dụng đồng thời và nguy cơ ngộ độc thận
Nên tránh sử dụng tenofovir disoproxil fumarate đồng thời hoặc gần đây với một thuốc gây độc thận (như aminoglycosides, amphotericin B, foscarnet, ganciclovir, pentamidine, vancomycin, cidofovir hoặc interleukin-2). Nếu sử dụng đồng thời tenofovir disoproxil fumarate và các thuốc gây độc thận là không thể tránh được, nên kiểm tra chức năng thận hàng tuần.
Các trường hợp suy thận cấp sau khi dùng liều khởi đầu cao hoặc nhiều thuốc chống viêm không steroid (NSAID) đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarate và có các yếu tố nguy cơ rối loạn chức năng thận. Cần kiểm tra chức năng thận đầy đủ khi dùng tenofovir disoproxil fumarate đồng thời với một thuốc chống viêm không steroid (NSAID).
Nguy cơ cao hơn về suy thận đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng tenofovir disoproxil fumarate kết hợp với một thuốc ức chế protease ritonavir hoặc cobicistat tăng cường. Cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận ở những bệnh nhân này. Ở bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ về thận, nên đánh giá cẩn thận việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarate với thuốc ức chế protease tăng cường.
Tenofovir disoproxil fumarate chưa được đánh giá về lâm sàng ở những bệnh nhân đang dùng các thuốc bài tiết qua cùng một hệ thống ở thận, bao gồm hệ thống vận chuyển anion hữu cơ vận chuyển protein ở người (hOAT)1) và 3 hoặc MRP 4 (chẳng hạn cidofovir là một chất đã biết gây độc thận). Những protein vận chuyển thận này có thể chịu trách nhiệm về bài tiết ở ống thận, và một phần, trong việc thải trừ qua thận của tenofovirvà cidofovir. Do đó, dược động học của các thuốc này mà được bài tiết ra qua cùng một con đường ở thận bao gồm các protein vận chuyển hOAT 1 và 3 hoặc MRP 4, có thể bị thay đổi nếu chúng được dùng đồng thời. Trừ khi thật cần thiết, không khuyến cáo dùng đồng thời các thuốc này mà chúng được bài tiết qua cùng một con đường ở thận, nhưng nếu sử dụng như vậy là không thể tránh khỏi, nên theo dõi chức năng thận mỗi tuần.Suy thận
An toàn thận với tenofovir disoproxil fumarate chỉ được nghiên cứu với mức độ giới hạn ở những bệnh nhân người lớn bị suy giảm chức năng thận (độ thanh thải creatinin <80 ml /phút).
Người lớn có độ thanh thải creatinin <50 ml/phút, bao gồm các bệnh nhân thẩm phân máu:
Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarate ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận còn hạn chế. Vì vậy, tenofovir disoproxil fumarate chỉ nên được sử dụng nếu lợi ích tiềm năng của điều trị được coi là lớn hơn những rủi ro tiềm ẩn.
Ở những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin <30 ml/phút) và ở bệnh nhân cần thẩm tách máu việc sử dụng tenofovir disoproxil fumarate không được khuyến cáo. Nếu không có phương pháp điều trị thay thế, cần phải điều chỉnh khoảng thời gian dùng thuốc và nên theo dõi chặt chẽ chức năng thận.
Tác dụng lên xương
Ở những bệnh nhân nhiễm HIV, trong một nghiên cứu lâm sàng có đối chứng kéo dài 144 tuần so sánh tenofovir disoproxil fumarate với stavudine trong công thức kết hợp với lamivudine và efavirenz trên các bệnh nhân người lớn chưa từng điều trị kháng retrovirus quan sát thấy có sự giảm nhẹ mật độ xương (BMD) ở xương hông và cột sống trong cả hai nhóm điều trị. Ở tuần 144, sự giảm mật độ xương ở cột sống và biến đổi các dấu chỉ sinh học của xương so với lúc bắt đầu nghiên cứu ở nhóm điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarate lớn hơn đáng kể so với nhóm kia. Ở nhóm này, sự giảm mật độ xương ở hông cũng lớn hơn đáng kể so với nhóm kia cho tới tuần thứ 96. Tuy nhiên, sau 144tuần điều trị, không có tăng nguy cơ gãy xương hoặc bằng chứng lâm sàng về bất thường xương.
Trong các nghiên cứu khác (tiến cứu và cắt ngang), giảm BMD rõ rệt nhất được thấy ở những bệnh nhân điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarate như là một phần của chế độ điều trị có chất ức chế protease.
Các liệu pháp điều trị thay thế cần được xem xét cho những bệnh nhân loãng xương có nguy cơ gãy xương cao.
Các bất thường về xương (không thường xuyên gây ra gãy xương) có thể liên quan đến tubulopathy thận gần.
Nên tham vấn bác sĩ nếu nghi ngờ hay phát hiện có bất thường xương.
Ảnh hưởng thận và xương ở trẻ em:
Chưa chắc chắn về những ảnh hưởng lâu dài trên xương và độc tính trên thận. Hơn nữa, sự hồi phục độc tính trên thận không thể xác định đầy đủ. Do đó, phương pháp tiếp cận đa ngành được khuyến cáo để đánh giá đầy đủ cho mỗi trường hợp về cân bằng giữa lợi ích / nguy cơ điều trị, quyết định theo dõi thích hợp trong quá trình điều trị (bao gồm cả quyết định ngừng điều trị) và xem xét sự cần thiết của các biện pháp bổ sung.
Ảnh hưởng thận
Các phản ứng không mong muốn tại thận phù hợp với tubulopathy thận gần đã được báo cáo ở những bệnh nhi nhiễm HIV-1 từ 2 đến <12 tuổi trong nghiên cứu lâm sàng.
Theo dõi thận
Chức năng thận (độ thanh thải creatinine và phosphate huyết thanh) nên được đánh giá trước khi điều trị và theo dõi trong suốt quá trình điều trị như ở người lớn.
Quản lý thận
Nếu phosphate huyết thanh được xác nhận là <3,0 mg/dl (0,96 mmol/l) ở bất kỳ bệnh nhi nào dùng tenofovir disoproxil fumarate, thì nên đánh giá lại chức năng thận trong vòng một tuần, bao gồm đo đường huyết, kali huyết và nồng độ glucose trong nước tiểu.
Nếu nghi ngờ hoặc phát hiện những bất thường về thận thì nên tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa thận để xem xét gián đoạn điều trị với tenofovir disoproxil fumarate. Điều trị gián đoạn với tenofovir disoproxil fumarate cũng nên được xem xét trong trường hợp tiến triển suy giảm chức năng thận mà không tìm được nguyên nhân nào khác.
Sử dụng đồng thời và nguy cơ nhiễm độc thận
Các khuyến cáo tương tự áp dụng như ở người lớn
Suy thận
Không nên sử dụng tenofovir disoproxil fumarate ở bệnh nhân trẻ em suy thận. Tenofovir disoproxil fumarate không nên bắt đầu ở bệnh nhân trẻ em suy thận và nên ngừng sử dụng ở những bệnh nhân trẻ em tiến triển suy thận trong quá trình điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarate.
Ảnh hưởng lên xương
Fovirpoxil có thể làm giảm mật độ xương (BMD). Ảnh hưởng của các thay đổi có liên quan đến tenofovir disoproxil fumarate trên BMD đối với sức khoẻ xương lâu dài và nguy cơ gãy xương trong tương lai chưa được biết.
Nếu phát hiện hoặc nghi ngờ các bất thường về xương ở trẻ em, nên tham khảo ý kiến của chuyên gia nội tiết học và / hoặc chuyên gia thận.
Bệnh gan
Dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả rất hạn chế ở những bệnh nhân ghép gan.
Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarate ở bệnh nhân nhiễm HBV có bệnh gan mất bù và có điểm số Child-Pugh-Turcotte (CPT)> 9 còn hạn chế.
Những bệnh nhân này có thể có nguy cơ bị phản ứng không mong muốn nghiêm trọng ở gan và thận cao hơn. Do đó, các thông số về gan và thận phải được theo dõi chặt chẽ trong nhóm bệnh nhân này.
Viêm gan nặng
Bùng phát trong điều trị: Các đợt cấp bùng phát tự phát ở bệnh viêm gan B mạn tính là tương đối phổ biến và được đặc trưng bởi tăng ALT huyết thanh thoáng qua. Sau khi bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng virus, ALT huyết thanh có thể tăng ở một số bệnh nhân. Ở những bệnh nhân có bệnh gan còn bù, sự gia tăng ALT huyết thanh thường không đi kèm với tăng nồng độ bilirubin huyết thanh hoặc mất bù gan. Bệnh nhân xơ gan có thể có nguy cơ gan mất bù do viêm gan trầm trọng cao hơn, do đó cần được theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị.
Bùng phát sau khi ngưng điều trị:
Viêm gan nặng cấp tính cũng đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã ngưng điều trị viêm gan B. Các đợt trầm trọng sau điều trị thường kèm gia tăng DNA HBV, và phần lớn có vẻ tự giới hạn. Tuy nhiên, các đợt trầm trọng nghiêm trọng, bao gồm cả tử vong, đã được báo cáo. Chức năng gan phải được theo dõi trong những khoảng thời gian lặp lại với cả việc theo dõi lâm sàng và xét nghiệm trong ít nhất 6 tháng sau khi ngưng điều trị viêm gan B. Nếu thích hợp, có thể tiếp tục việc điều trị viêm gan B. Ở những bệnh nhân bị bệnh gan tiến triển hoặc xơ gan, không khuyến cáo ngừng điều trị vì viêm gan trầm trọng sau điều trị có thể dẫn đến mất bù gan.
Bùng phát gan đặc biệt nghiêm trọng và đôi khi gây tử vong ở những bệnh nhân bị bệnh gan mất bù.Đồng nhiễm với viêm gan C hoặc D: Không có dữ liệu về hiệu quả của tenofovir ở bệnh
nhân đồng nhiễm virus viêm gan C hoặc D.
Đồng nhiễm với HIV-1 và viêm gan B: Do nguy cơ phát triển kháng HIV, tenofovir disoproxil fumarate chỉ nên được sử dụng một phần của một phác đồ phối hợp kháng retrovirus phù hợp ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV / HBV.
Các bệnh nhân có rối loạn chức năng gan trước đây, bao gồm viêm gan mạn tính hoạt động, có tần số chức năng gan tăng bất thường trong điều trị kết hợp thuốc kháng retrovirus và nên được theo dõi theo thực hành chuẩn. Nếu có những bằng chứng về bệnh gan nặng hơn ở những bệnh nhân này, gián đoạn hoặc ngưng điều trị phải được xem xét.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tăng ALT có thể là một phần của việc thanh thải HBV trong quá trình điều trị với tenofovir.
Sử dụng với một số loại thuốc kháng virus viêm gan siêu vi C
Sử dụng tenofovir disoproxil fumarate cùng với ledipasvir / sofosbuvir hoặc sofosbuvir / velpatasvir cho thấy tăng nồng độ tenofovir trong huyết tương, đặc biệt khi dùng chung với phác đồ điều trị HIV chứa tenofovir disoproxil fumarate và thuốc tăng cường dược động học (ritonavir hoặc cobicistat). Tính an toàn của tenofovir disoproxil fumarate trong sự sắp đặtcủa ledipasvir/sofosbuvir hoặc sofosbuvir/velpatasvir và một chất tăng cường dược động học chưa được thiết lập.
Những nguy cơ tiềm ẩn và lợi ích liên quan đến việc dùng đồng thời với lidopasvir/ sofosbuvir hoặc sofosbuvir/velpatasvir với tenofovir disoproxil fumarate sử dụng kèm với một chất ức chế protease HIV (như atazanavir hoặc darunavir) nên được xem xét, đặc biệt ở những bệnh nhân tăng nguy cơ rối loạn chức năng thận. Cần theo dõi các phản ứng không mong muốn liên quan đến tenofovir disoproxil fumarate ở các bệnh nhân dùng đồng thời ledipasvir/sofosbuvir hoặc sofosbuvir/velpatasvir cùng với tenofovir disoproxil fumarate và một chất ức chế protease HIV được tăng cường.
Rối loạn chức năng ty thể sauphơi nhiễm trong tử cung:
Các chất tương tự nucleoside và nucleotide có thể ảnh hưởng đến chức năng của ty thể ở một mức độ khác nhau, được ghi nhận nhiều nhất với stavudine, didanosine và zidovudine.
Đã có báo cáo về rối loạn chức năng ty thể ở trẻ sơ sinh HIV âm tính bị phơi nhiễm trong tử cung và / hoặc sau sinh với các chất tương tự nucleoside và nucleotide; những điều này chủ yếu liên quan đến điều trị bằng các phác đồ có chứa zidovudine.
Các phản ứng không mong muốn chủ yếu được báo cáo là rối loạn huyết học (thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính) và rối loạn chuyển hóa (tăng lactate máu, tăng lipase máu). Những biến cố này thường thoáng qua. Triệu chứng rối loạn thần kinh muộn đã được báo cáo là hiếm (chứng tăng trương lực, co giật, hành vi bất thường). Rối loạn thần kinh như vậy là thoáng qua hay vĩnh viễn hiện nay không rõ.
Những phát hiện này nên được xem xét cho bất kỳ trẻ em nào bị phơi nhiễm trong tử cung với các chất tương tự nucleoside và nucleotide, những người có các kết quả xét nghiệm lâm sàng nghiêm trọng mà không biết nguyên nhân, đặc biệt là các xét nghiệm về thần kinh. Những phát hiện này không ảnh hưởng đến các khuyến cáo quốc gia hiện nay về sử dụng liệu pháp kháng retrovirus ở phụ nữ mang thai để ngăn ngừa lây truyền dọc HIV.
Hội chứng tái hoạt hóa miễn dịch
Ở bệnh nhân nhiễm HIV bị suy yếu miễn dịch nặng ở thời điểm bắt đầu điều trị phối hợp các thuốc kháng retrovirus (CART), một phản ứng viêm đối với các mầm bệnh cơ hội còn sót lại hoặc không có triệu chứng xuất hiện và gây các bệnh cảnh lâm sàng nghiêm trọng hoặc làm trầm trọng các triệu chứng. Điển hình, các phản ứng này được thấy trong vòng vài tuần hay vài tháng đầu khi bắt đầu CART. Ví dụ như viêm võng mạc do cytomegalovirus, nhiễm mycobacterium toàn thân và/hoặc cục bộ và viêm phổi do Pneumocystis jirovecii. Bất kỳ triệu chứng viêm nào cũng nên được đánh giá và tiến hành điều trị khi cần thiết.
Hoại tử xương
Mặc dù nguyên nhân gây bệnh được cho là đa nhân tố (bao gồm sử dụng corticosteroid, uống rượu, ức chế miễn dịch nghiêm trọng, chỉ số cơ thể cao hơn), các trường hợp hoại tử xương đã được báo cáo, đặc biệt ở những bệnh nhân có bệnh HIV tiến triển và / hoặc phơi nhiễm lâu dài với CART. Nên khuyên bệnh nhân gặp tư vấn y tế nếu họ bị đau khớp và đau, cứng khớp hoặc khó khăn trong vận động
Người lớn tuổi
Tenofovir disoproxil fumarate chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân trên 65 tuổi. Bệnh nhân lớn tuổi có nhiều khả năng bị suy giảm chức năng thận, do đó cần thận trọng khi điều trị bệnh nhân cao tuổi với tenofovir disoproxil fumarate.
Tương tác thuốc (Những lưu ý khi dùng chung thuốc với thực phẩm hoặc thuốc khác)
Không nên dùng Fovirpoxil đồng thời với các thuốc khác có chứa tenofovir disoproxil fumarate hoặc tenofovir alafenamide. Không nên dùng đồng thời Fovirpoxil với adefovir dipivoxil
Didanosine
Không khuyến cáo dùng chung tenofovir disoproxil fumarate và didanosine
– Thuốc kháng retrovirus
Chất ức chế protease
Atazanavir/Ritonavir (300 q.d./100 q.d./300 q.d.); Lopinavir/Ritonavir (400 b.i.d./100 b.i.d./300 q.d.); Darunavir/Ritonavir (300/100 b.i.d./300 q.d.): Không cần chỉnh liều. Việc tăng nguy cơ phơi nhiễm với tenofovir có thể làm tăng các phản ứng phụ liên quan đến tenofovir, bao gồm rối loạn thận. Nên theo dõi chặt chẽ chức năng thận.
Các NRTI
Didanosine: Không khuyến cáo kết hợp tenofovir disoproxil fumarate và didanosine.
Adefovir dipivoxil: Không nên dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarate với adefovir dipivoxil.
Entecavir: Không có tương tác dược động học đáng kể về lâm sàng khi tenofovir disoproxil fumarate được dùng chung với entecavir
Các thuốc kháng virus viêm gan virus C:
Nồng độ tenofovir trong huyết tương tăng do dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarate, ledipasvir / sofosbuvir và atazanavir / ritonavir hoặc darunavir/ritonavir có thể làm tăng phản ứng không mong muốn liên quan đến tenofovir disoproxil fumarate, bao gồm rối loạn chức năng thận. Tính an toàn của tenofovir disoproxil fumarate khi dùng với ledipasvir/sofosbuvir và thuốc tăng cường về dược động học (ví dụ ritonavir hoặc cobicistat) chưa được thiết lập.
Chống chỉ định (Khi nào không nên dùng thuốc này?)
Quá mẫn với tenofovir hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
– Chống chỉ định cho trẻ em dưới 12 tuổi cho đến khi có thêm dữ liệu.
– Không nên dùng đồng thời với viên kết hợp liều cố định có chứa tenofovir disoproxil fumarate, tenofovir alafenamide hoặc adefovir dipivoxil.
Thông tin sản xuất
Bảo quản:
- Ở nhiệt độ dưới 30°C, nơi khô ráo, tránh ánh sáng
Đóng gói:
- Hộp 3 vỉ x 10 viên
Thương hiệu:
- OPV
Nơi sản xuất:
- Việt Nam




Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.